Vẫn như lời mẹ dặn

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 

Vẫn như lời mẹ dặn


 

Tác giả: Thanh Hải.



Khi nhắc đến Phùng Quán - chúng ta nghĩ ngay tới một nhà văn có nhân cách lớn lao động hết mình vì nghệ thuật dù trải qua bao nhiêu giông bão của cuộc đời nhưng nhà văn ấy vẫn "sống" vẫn đứng vững trong cái "nghiệp" mà mình đã chọn.

 

Tháng 1 năm 1932 tại xã Thuỷ Dương huyện Hương Thuỷ  tỉnh Thừa Thiên - Huế sinh ra một bé trai đặt tên là Phùng Quán. Mười ba năm sau Huế hiến dâng cho Tổ Quốc một chiến sĩ Vệ quốc quân (1945 Phùng Quán gia nhập Vệ Quốc đoàn là chiến sĩ trinh sát của Trung đoàn 101 lúc đó ông mới 13 tuổi) chưa đầy mười năm sau chiến sĩ ấy đã trở thành một nhà văn.

Nhà văn đó lớn lên trong cảnh "Đất Nước chưa vẹn tròn tôi còn là nô lệ" với cái nhiệt thành của tuổi xuân xanh đang hừng hực lửa từ ngọn bút ấy đã tuôn ra những dòng "nước sống" dòng nước đó có thể giúp cho nhiều người (trước hết là cho chính nhà văn) có sức mạnh để băng qua một "Tuổi thơ dữ dội" có sức mạnh để "Vượt Côn Đảo" và có sức mạnh để tiếp tục chiến đấu cho Tổ Quốc cởi bỏ gông xiềng cho dân tộc.

Một lòng trung với nước với từng "con chữ".

Vào nửa cuối những năm 50 phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm diễn ra đã thu hút đông đảo văn nghệ sĩ là "chiến sĩ" tham gia trong số đó có nhiều tên tuổi nổi tiếng như: Hữu Loan Quang Dũng Hoàng Cầm Trần Dần Văn Cao Lê Ðạt.

Phùng Quán cũng là một thành viên trong phong trào ấy. Nhưng do tác động của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà nên một thời gian sau phong trào này chấm dứt. Bản thân Phùng Quán bị kỷ luật mất đi tư cách hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và phải đi lao động cải tạo nhiều nơi từ Thái Nguyên Việt Trì cho đến Thái Bình Thanh Hóa.

Sống trong cảnh không nhà không cửa có vợ có con rồi mà 20 năm ròng không có lấy một chỗ để trú thân tên của ông chẳng ai dám cho in lên bìa sách. Thế nhưng lòng trung thành vẫn không hề phai nhạt trong ông ông vẫn viết - viết hăng say văn vẫn "dòng đầu thẳng ngay như dòng cuối" luôn ca ngợi Đất nước ca ngợi nhân dân ca ngợi Cách mạng và ca ngợi tình yêu bằng những tác phẩm văn chương thiết tha bổng cháy và đầy nhân bản.

Nhà văn Phùng Quán


Bác Hồ vô vàn kính yêu của chúng ta đã từng hôn lên hòn đất quê nhà sau bao nhiêu năm xa cách Bác gửi vào đó một tình yêu - tình yêu đã qua sự trải nghiệm tình yêu đã gắn liền với máu thịt với từng tấc đất. Phùng Quán cũng đã yêu quê hương yêu Đất nước mình đến gần dường ấy trong sự gắn bó ông đã nhận ra được một điều: "Ai yêu đất bằng tất cả cuộc đời mình/Sẽ được nghe đất hát...". Tiếng hát ấy như luôn thắp lên ngọn lửa nhiệt huyết như chiếc gậy vững chắc đỡ nâng ông trước giông bão cuộc đời. Để khi đã bước qua rồi ông ngoái đầu nhìn lại và cất lên tiếng gọi: "Đất nước ơi! Quê hương ơi!/Ta sẽ trọn một đời chung thủy".

Trong Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe có đoạn viết: "Đã đi với nhân dân/Thì thơ không thể khác/Dân máu lệ khốn cùng/Thơ chết áo đắp mặt?" bài thơ đọc lên như một lời kinh cầu cho thân phận của con người làm hồn ta lắng lại ở đó ta lại thấy có một Phùng Quán luôn một lòng với nhân dân với người cùng khổ. Bởi lẽ chính ông cũng đã trải qua biết bao nhiêu sự khốn khó của đời này và ông biết cái gì là kinh khiếp nhất đích đến cuối cùng vẫn không gì khác ngoài tình người: "Trong trăm nghìn nỗi đói/Tôi nếm trải cả rồi/Tôi chỉ kinh khiếp nhất/Là nỗi đói tình người". Cũng chính vì nó mà ông một đời chật vật nhưng tôi biết ông đã được "no".

Cả một đời "cá trộm rượu chịu văn chui" hơn 30 năm ròng vật vã với những tai ương đau khổ cho đến sau thời kì Đổi mới cái tên Phùng Quán mới được nhìn nhận lại. Tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam đó như là một sự khẳng định cho lòng thủy chung trung kiên của ông với cái "nghiệp" mà ông đã chọn.

Bao nhiêu năm thơ vẫn mặn mà thể ấy người vẫn một lòng Trung thể ấy Đất nước đã mở rộng vòng tay đón ông khi ông đã gần bên bờ kia của cuộc đời. Dù muộn màng nhưng cũng làm ông được an ủi biết rằng thời gian qua mình đã không đợi chờ vô ích cũng không hề lao khổ luống công.

Chân thật như "lời mẹ dặn".

"Thấy vui muốn cười là cười/Thấy buồn muốn khóc là khóc/Yêu ai cứ bảo là yêu/Ghét ai cứ bảo là ghét/Dù ai ngon ngọt nuông chiều/Cũng không nói yêu thành ghét/Dù ai cầm dao dọa giết/Cũng không nói ghét thành yêu" - Đó là một đoạn trích trong bài thơ Lời mẹ dặn của Phùng Quán. Thoạt tiên nhìn vào câu chữ bài thơ tôi bổng dưng bật cười: "À đây chỉ là một bài thơ con cóc". Thế nhưng đọc kĩ bài thơ tôi mới thấy được sự thu hút lạ lùng cũng chính vì điều ấy mà Lời mẹ dặn đã một thời ghi sâu trong lòng biết bao nhiêu độc giả.

Lời mẹ dặn con phải làm một người chân thật con chưa hiểu được nên mới ngập ngừng hỏi mẹ: "Mẹ ơi! Chân thật là gì?". Mẹ âu yếm hôn lên đôi mắt con trả lời: Chân thật là...là những điều ai cũng đã biết! Lời mẹ dặn đã trở nên thiêng liêng trở nên đường hướng cho mỗi bước đi của ông và theo ông suốt cả cuộc đời. Thế rồi khi lớn lên trở thành một nhà văn Phùng Quán ngày xưa nay vẫn theo đuổi có một điều một ao ước: "Tôi muốn làm nhà văn chân thật chân thật trọn đời/Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi/Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã/Bút giấy tôi ai cướp giật đi/Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá". Ôi! Thật đáng quý biết bao cái ước muốn đó đáng quý biết bao cái chí khí đó đáng quý biết bao cái tên Phùng Quán chân thật và thân thương đó! Điều này chính cuộc đời Phùng Quán đã chứng minh.

Một quãng trong cuộc đời ấy...cách đây hơn 20 năm Phùng Quán thường xuyên lui tới một quán rượu cạnh hồ Tây. Bạn bè đông mỗi lúc bạn ghé nhà thì Phùng Quán lại dắt đi ra quán rượu. Bữa nào cũng như bữa nấy ông đều dắt đến một quán quen vì ở đây ông thường nợ rượu. Bà chủ quán rượu này cũng đến là lạ mỗi lần ông thiếu nợ bà chẳng ghi vào sổ sách gì cả mà khắc ngay vào gốc cây xà cừ cạnh đó (cách ghi của bà như sau: Nếu mua 1 xị (1/4 chai) là dấu trừ (-) hai xị (nửa lít) là dấu cộng (+) 1 lít thì là 2 dấu cộng (+ +) cứ thế tính lên).

Đến độ cây xà cừ đã chi chít những dấu cộng dấu trừ rồi mà chưa thấy ông trả bà chủ nhắc khéo: "Hết chỗ ghi dấu cộng dấu trừ rồi ông nhà văn ơi!". Ông lại khất nợ: "Dạo này nhuận bút chậm bạn bè lại đến đông xin bà thư thư cho!" nghe vậy bà chủ quán lại vui vẻ cho nợ.

Cũng trong lần đến chơi đó có anh bạn là lính Đặc công nghe được câu chuyện nợ rượu của Phùng Quán nên tối về bèn lột hết dấu cộng dấu trừ trên cây xà cừ đi. Sáng mai ra dọn hàng thấy cây xà cừ láng o bà chủ quán khóc toáng lên và gọi ông ra trách móc: "Chả nhẽ ông xóa hết nợ kiểu này sao?". Bà vừa dứt lời thì Phùng Quán nhẹ nhàng đáp: "Chị ơi! Chị đừng khóc nữa tôi sẽ trả hết nợ cho chị có lấy bao nhiêu tôi cũng sẽ trả đủ cho".

Cách mấy hôm sau vừa nhận được tiền nhuận bút của số báo Tết Phùng Quán liền ra trả nợ cho bà (số tiền mà ông trả còn nhiều hơn số tiền mà ông đã nợ).

Đúng là chân thật như Phùng Quán dù đã đi gần hết cuộc đời nhưng ông vẫn không hề sai Lời mẹ dặn.


Thanh Hải

More...

Ngôn ngữ TRỊNH

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

  NGÔN NGỮ TRỊNH
Tác giả: Trịnh Chu 

Trịnh Công Sơn tự đắp cho mình một "nấm mồ" để rồi ngồi trên đó mà trầm tư không dứt về thân phận kiếp người cho dù thể phách và tinh anh chưa một lần vỗ cánh bay đi.

Thi thoảng trong đời thấp thoáng những bóng giai nhân - như nàng Kiều ngày xuân đi tảo mộ - "buồn chân ghé  chơi" "ngôi mộ" bằng thơ và bằng nhạc do chính bàn tay người nhạc sĩ tài ba có cái "gien" lau sậy ấy xây nên. Tuy "hồn ma" Trịnh Công Sơn đã thoát thai và đang thênh thang trong cõi riêng của mình nhưng xem chừng Trịnh Công Sơn còn nặng nợ với trần gian này lắm! Và sau những lần tao ngộ ấy những giai điệu diễm lệ ra đời góp phần đưa chàng trai họ Trịnh đi vào tình sử. Đó là hệ quả của cuộc hôn phối giữa "cõi mộng" và "trần gian". Từ đó ông khoác vào chữ "buồn" hai hình hài: "đẫm lệ" và "diễm lệ"!


Trên chặng đường phát triển ngôn ngữ tiếng Việt Trịnh Công Sơn như một nhà phù thủy của ngôn từ. Ông khoác vào ngôn ngữ mẹ đẻ một quầng ảo vọng chắp cánh cho tưởng tượng và đã biến thành hạc vàng bay vút trên bầu trời thơ siêu thực đang dậy thì lứa ô mai nhị độ ở thế kỷ XX mà theo tôi có lẽ ngàn năm sau cũng khó có người Việt nào đạt đến trình độ điêu luyện ấy. Ông như một vị tướng tài ba điều động đội quân ngôn ngữ một cách diệu xảo. Những sự vật tầm thường nhưng khi được "chiếc đũa thần" của Trịnh gõ vào thì lập tức biến thành lạ thường. "Nắng" thì ai chả thấy nhưng chỉ có Trịnh Công Sơn mới thấy "Nắng Thuỷ Tinh". "Mưa" đương nhiên ai chả biết nhưng "Mưa Hồng" thì chỉ chàng trai họ Trịnh mới hay! Hạ là hè. Mùa hạ tức mùa hè. Điều đó có gì lạ! Lạ chăng là bởi sau chữ Hạ Trịnh Công Sơn thêm chữ Trắng đầy diễm tuyệt trong ca khúc "Hạ Trắng". "Mắt xanh xao" có lẽ đối với các nhà bệnh lý học thì đấy là triệu chứng của một bệnh nào đấy nhưng đối với Trịnh thì "mắt xanh xao" lại là điểm nhấn cho một hình ảnh liêu trai đài các: "Dài tay em mấy thuở mắt xanh xao" (Diễm Xưa).

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Do yêu cầu của bài viết tôi đã làm cái việc "động trời" là đụng đến Nguyễn Du - một bậc thầy về ngôn ngữ. Tôi không có ý so sánh chỉ cúi xin cụ tha thứ nếu như kẻ hậu sinh này có phần thất lễ với cụ. Tôi chỉ muốn bàn về nghệ thuật sử dụng ngôn từ giữa hai con người tài danh này mà thôi. Dẫu sao cụ cũng đã trở thành người cha già của thi ca và tư tưởng Việt Nam cũng thênh thang nơi đỉnh Hồng Lĩnh tiêu dao đồng lộng với gió quê nhà và là một trong năm nhà thơ vĩ đại nhất Đông Phương. Thì tôi tin rằng nếu mình có bất kính với cụ một chút chắc cụ cũng không chấp cái kẻ hậu sinh xảo ngôn này nên tôi mạnh dạn viết ra chủ ý của mình vậy. Tuy nhiên cái hay cái đẹp thì muôn hình vạn trạng lại thêm "gu" thưởng lãm nghệ thuật của mỗi người mỗi khác. Vì cái đẹp là vô cùng e không chiều được tất thảy mọi người tôi đành chiều theo sở thích riêng của mình!

Ở Nguyễn Du tiếng Việt chỉ đẹp bởi sự chính xác mang tính triết lý cao và xem ra cái "mỹ" ở đây chỉ là cái "mỹ" của hiện thực. Còn cái "đẹp" của Trịnh Công Sơn lại là cái "đẹp" bảng lãng sương khói của siêu thực ấn tượng bởi vì ông có khả năng tạo nên độ bóng của ngôn từ. Sự vật nào được Trịnh Công Sơn đụng đến cũng bớt thật đi và được khoác lên một thứ ánh sáng mới đủ sức bước ra sân khấu của ngôn từ với vẻ mặt trang trọng.


Vũ trụ quan và nhân sinh quan của Nguyễn Du là tài - mệnh tương đố và dù nàng Kiều - giai nhân toàn bích nhất trong suốt hai thế kỷ qua cũng chưa thể có thêm đôi cánh để thoát khỏi mớ đèo bòng tài - mệnh. Ngược lại những cô gái trong Diễm Xưa Biển Nhớ Nắng Thủy Tinh Như Cánh Vạc Bay ... thì đích thị họ là những nàng tiên bởi họ có đôi cánh tin yêu toả ánh sáng nghê thường xuống chốn nhân gian này. Cái biệt tài của Trịnh Công Sơn là vậy! Những từ tổ hợp từ như Phúc Âm Buồn Vết Lăn Trầm Biển Nhớ Diễm Xưa Tuổi Đá Buồn Rồi Như Đá Ngây Ngô... thì phải chờ đến con người tài danh Trịnh Công Sơn mới đủ khả năng để gọi tên sự vật một cách diệu ảo.


 
Khác với Nguyễn Du tạo nên nàng Kiều - một giai nhân toàn bích - nhưng cái đẹp toàn bích không làm Trịnh Công Sơn rung động giữa cái toàn bích ông chấm một nét hỏng và chính nét hỏng đó làm say lòng người: "Gió sẽ mừng vì tóc em bay/ Cho mây hờn ngủ quên trên vai/ Vai em gầy guộc nhỏ/ Như cánh vạc về chốn xa xôi" (Như Cánh Vạc Bay).


Cụ Nguyễn Tiên Điền có lúc phải thốt lên một câu: "Yêu nhau lại hóa bằng mười phụ nhau". Trịnh Công Sơn thì sao? Chẳng sao cả! Ông bình thản trước mọi tráo trở của cuộc đời. Ông lớn tiếng công bố: "Yêu em yêu thêm tình phụ / Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ". Đây là lời chú mở lối Thiên Thai là tình yêu cứu rỗi chung cùng vượt qua ranh giới thiện ác vị kỷ của con người.

Cái đẹp và cái buồn của Trịnh Công Sơn có cái gì đó khác người. Như một nhà hiền triết phương Đông ông nhận ra cái tất yếu của cô đơn cái hào hoa của thất bại cái quyến rũ của triền dốc cái ma lực của chén đắng. Đời dành cho ông lên đến đỉnh buồn và xuống tới vực thẳm một cái "Tâm Linh Thị" nhìn ra mọi lẽ đời do đó bóng dáng cổ tích không hề xuất hiện trong các ca khúc của Trịnh tình yêu cũng siêu hình nỗi đau cũng siêu hình tức là ít nhiều nhuốm màu sắc ý chí của kẻ chủ trương đồng thời nhạt bớt hương vị của thường tình. Tình yêu trở thành ý niệm. Vì vậy dù thật buồn bao giờ cũng có một câu hé nắng. Đó là cái diệu tài của Trịnh.


Hình như máu lửa quê hương và sự ám ảnh về cái chết đã làm cuộc hôn phối cho một thế giới vừa hư vừa thực trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn. Ông nhìn thấy cái "tan" ngay khi cái "hợp" đang thành tựu cái biến dịch ngay trong cái khởi nguyên. "Ngày nào vừa đến đã xa muôn trùng" (Rồi Như Đá Ngây Ngô) "Từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng" (Như Cánh Vạc Bay) hay "Có chút lệ nhoà trong phút hôn nhau" (Bay Đi Lặng Thầm) "Trong xuân thì thấy bóng trăm năm" (Gần Như Niềm Tuyệt vọng) "Đã có nghìn trùng trên môi người tình/Đã dấu nụ tàn bên trong nụ hồng/ Có chớm lạnh lùng trên môi nồng nàn/ Có thoáng gập ghềnh trên con đường mòn" (Như Một Vết Thương)... Dưới con mắt ông thần chết không đáng sợ như ta tưởng mà thần chết cũng có cái gì đó rất duyên (!). Ông tâm sự: "Cuối cùng không có gì khác hơn là sống và chết. Sống làm thế nào cho tràn đầy sự có mặt và chết cho tràn ngập cõi hư không. Phải đi đến tận cùng của hai cõi sống chết để làm tan biến những giấc mộng đời không thực". Bởi mọi sự vật đều thường biến biến thiên theo những chu kỳ nhất định không có cái gì trường cửu kể cả tình yêu. Vì vậy nghe ông chúng ta thường bắt gặp một cái nhìn đầy ưu tư về thân phận.


Có lẽ Trịnh Công Sơn là "ma" trong chốn riêng của mình ông làm mưa làm gió ông thoắt ẩn thoắt hiện ông dịch chuyển vũ trụ ông phân chia con người. Chưa bao giờ ngôn ngữ mẹ đẻ lại có một bộ mặt liêu trai lạ lẫm đến như vậy: "Chợt hồn xanh buốt cho mình xót xa" (Diễm Xưa) "Vòng tay quen hơi băng giá" (Nghe Những Tàn Phai) "Tay rong rêu muộn màng" (Ru Ta Ngậm Ngùi) "Ngủ đi em tay xanh ngà ngọc" (Em Hãy Ngủ Đi) "Bàn tay xanh xao đón ưu phiền" (Nắng Thủy Tinh) ...


Hãy trở lại với cụ Nguyễn Du và xem cụ Nguyễn tả cảnh. Tôi xin trích ra đây hai câu thơ trong Kiều: "Cỏ non xanh rợn chân trời/ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa" - một vẽ đẹp toàn bích của hội họa tả thực. Trịnh Công Sơn: "Ôi áo xưa lồng lồng đã xô dạt trời chiều" (Tình Nhớ) "Nghe tháng ngày chết trong thu vàng" (Nhìn Những Mùa Thu Đi) thì lại là đỉnh cao của ấn tượng siêu thực.


Nhóm tâm trạng của Nguyễn Du: "Từ nay góc bể chân trời/ Nắng mưa thui thủi quê người một thân". Trọng âm nằm ở chữ "một" âm trắc chữ "thân" âm bằng theo sau tạo thành âm hưởng buồn như một kết tốt đen của sự cô quạnh. Câu thơ đạt đến sự chuẩn mực của nền văn học cổ điển.

Cũng là một thân cũng là sự cô đơn vô tận của kiếp người trong cõi trần ai nhưng Trịnh Công Sơn lại dùng chữ "với" cực hay. "Đời như vô tận/ Một mình tôi về/ Một mình tôi về  với tôi" (Lặng Lẽ Nơi Này). Nói về sự trống lạnh cô đơn mà ông dùng liên từ "với" làm tôi lạnh người.


Dưới đôi cánh thi ca thiên tài của mình Trịnh Công Sơn một lần nữa đưa ngôn ngữ mẹ đẻ vỗ cánh bay lên. Ông khái quát hoá sự vật thành biểu tượng khi chúng ta nghĩ ngợi đến cùng đích cộng với sự thăng hoa tình cảm thì lại gặp ông. Ngôn ngữ của ông có sức len lỏi vào những tế bào người nghe và làm cho các tế bào bừng tỉnh cộng hưởng run rẩy không thôi. Và ở một góc độ nào đó Trịnh Công Sơn không chỉ dừng lại ở nhà phù thủy của ngôn từ mà còn là nhà sáng tạo ngôn ngữ.


Trên đây là toàn bộ cảm nhận của tôi về cách sử dụng ngôn ngữ của hai con người tài danh: Nguyễn Du - Trịnh Công Sơn. Là hai vĩ nhân của ngôn từ: một người là đỉnh cao của hội họa tả thực một người thuộc trường phái ấn tượng siêu thực. Tôi không có ý so sánh chỉ muốn khẳng định một điều: Nguyễn Du là tuyệt đỉnh nhưng không có nghĩa cái đẹp đến đấy thì chấm dứt. Vả lại đây là hai kênh khác nhau: hiện thực và siêu thực...

Trịnh Chu.

More...

Nguyễn Trường Tộ và khát vọng canh tân

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 


Nguyễn Trường Tộ viết: "Mấy chục năm nay tôi bôn ba trong thiên hạ thu thập những tình thế biến đổi xưa nay đem những điều đã học trong sách nghiệm ra việc đời. Đã trao đổi với ai một lời nói một câu chuyện thì thâm tâm tôi cũng có ý muốn thu lấy sự hiểu biết của người làm của mình".

Nguyễn Trường Tộ (NTT) sinh năm 1828 (tức năm Minh Mạng thứ 9) trong một gia đình Công giáo quê làng Bùi Chu (nay thuộc xã Hưng Trung huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An).

Ham học hỏi và lĩnh hội tri thức

Từ nhỏ ông đã được Giám mục Ngô Gia Hậu (Gauchier) dạy cho tiếng Pháp cùng với các môn khoa học thường thức của Tây phương. Ngoài ra ông lại được cho đi du học ở nhiều nơi như: Singgapore Malaixia Pháp La Mã...trong những chuyến đi đó ông đã tìm tòi và lĩnh hội được nhiều tri thức khoa học mới trong lòng nung nấu đem những điều mình đã học hỏi được về phục vụ cho lợi ích nước nhà.

 Tháng 6 năm 1864 (tức tháng 5 năm Tự Đức thứ 17) NNT có bài viết bày tỏ mục đích về những lần xuất ngoại của mình: "Từ 15 năm nay tôi đã biết rõ tất phải có mối lo như ngày hôm nay nên tôi đã ra sức tìm tòi học hỏi trí khôn của mọi người để thêm sự hiểu biết cho mình".

Trong bản Trần tình (8/5/1863) ông lại viết: "Về việc học thì không môn nào không để ý tới cái cao của thiên văn cái sâu của địa lý cái phiền toái của nhân sự cho đến luật lịch binh quyền tạp giáo dị nghệ các môn cách trí thuật số không môn nào tôi không khảo cứu".

Ngày mùng 9 tháng 3 năm 1867 (tức ngày 16 tháng 2 năm Tự Đức thứ 21) ông lại viết tiếp: "Mấy chục năm nay tôi bôn ba trong thiên hạ thu thập những tình thế biến đổi xưa nay đem những điều đã học trong sách nghiệm ra việc đời. Đã trao đổi với ai một lời nói một câu chuyện thì thâm tâm tôi cũng có ý muốn thu lấy sự hiểu biết của người làm của mình". Nhờ có lòng ham học hỏi và ý thức học tập một cách nghiêm túc nên NTT đã có một sự hiểu biết rất sâu rộng.

Những bản điều trần và khát vọng canh tân

Cũng vì mến mộ tâm lực của ông trong việc xây cất tu viện ở Sài Gòn nên trong Ký sự của dòng thánh Paul (Phao Lô) đã có những đoạn chép hết lòng ca ngợi: "Ông rất thông minh linh hoạt và vô vị lợi đến mức tuyệt đối vì ông không nhận một đồng lương nào chỉ ăn cơm không và tiêu vặt chút ít. Không có ông chúng tôi không bao giờ xây dựng được những tu viện nguyệt đường...". Đó là chưa kể đến việc ông giúp tổng đốc Hoàng Kế Viêm (khi ông đã về Nghệ An) hoàn thành việc đào Kênh Sắt   xây dựng các cơ sở Nhà chung Xã Đoài (1868) và giúp dân làng Xuân Mỹ dời dân tránh khỏi vùng khí hậu khắc nghiệt.

Tháng 5 năm 1863 ông đã soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận bản thứ hai là Giáo môn luận bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước. Với Tế cấp luận ông đã khẳng định: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay...bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".

Ở bản Giáo môn luận  ông dùng những lý lẽ của trời đất và các chứng cớ lịch sử để kêu gọi Triều đình phải có chính sách bao dung nhân ái đối với những tín đồ Công giáo. Thế nhưng đứng trước tình thế bất lợi (Triều đình Huế đã kí hòa ước 5/6/1862 nhưng không muốn thi hành hay sửa đổi) NNT nhận thấy rằng chúng ta cần phải tạm thời hòa hoãn để củng cố mọi mặt đất nước sau đó sẽ dốc lực đấu tranh trong bối cảnh đó ông đã viết Thiên hạ phân hợp đại thế luận.

Sau ba bản điều trần trên NTT liên tục gửi nhiều bản khác lên Triều đình Huế (có 58 di thảo gửi cho Triều trình liên tục trong vòng 10 năm). Những bản điều trần của NNT là những đề nghị tâm huyết của ông nhằm góp phần xây dựng đất nước đưa đất nước thoát khỏi tình trạng phong bế lạc hậu và tạo nên sự thay đổi lớn lao bên trong đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhìn vào nội dung các bản điều trần chúng ta nhận thấy Nguyễn Trường Tộ đã đi trước và vượt lên trình độ của các tầng lớp trí thức nho sỹ đương thời.

Song thật tiếc những dòng tâm huyết ấy lại không được chấp nhận do hạn chế của thời đại. Trước hết do đất nước đang ở trong tình thế nước sôi lửa bỏng: bên ngoài giặc đánh Đà Nẵng chiếm Gia Định chiếm ba tỉnh miền Đông rồi ba tỉnh miền Tây nội tình thì loạn lạc (loạn Đoàn Trưng khiến Tự Đức suýt mất ngôi). Mặt khác do cái nhìn hạn hẹp của các quan chức đầu triều lúc bấy giờ (kể từ thời Gia Long bộ phận đầu não của Triều đình đều là những người già bảo thủ nên bất cứ việc gì vua hỏi cũng đều phân vân không dám quyết hoặc quyết theo hướng đóng cửa làm tăng thêm những mâu thuẩn xung đột). Và kết cuộc sự đợi chờ của ông cũng chỉ là vô vọng mà thôi. Không những thế ông lại còn bị Triều đình nghi ngờ là có quan hệ với Pháp (vì ông là tín đồ Công giáo lại có thời gian làm việc cho Tây soái ở Nam Kỳ).

Ngày mùng 8 tháng 5 năm 1863 ông đã viết bản Trần tình bộc lộ những suy nghĩ và khát vọng của mình về thế cuộc giải bày tấm lòng mình một hai đều vì nước nhà dù công danh tiền bạc cũng không làm lay chuyển được tấm lòng của ông Trần tình có đoạn viết: "Sau đó tướng Bonard sang tôi thấy ông ta có những hành động ngược lại sự bàn hòa tình thế đã khó lại khó thêm tôi mới quyết ý xin thôi không làm nữa. Họ không chịu xét. Tôi nhất định từ không nhận bổng lộc ai cũng cười là ngu. Mặc dầu họ có sai người đến cố nài ép trao cho tôi tôi cũng bỏ đi. Thấy lòng tôi quyết định chí tôi vững họ lại đem quan chức ra dụ tôi. Tôi nói: Nhận quan chức thì được bổng lộc không nhận thì dù bần cùng đến phải làm đứa ăn xin chứ không chịu theo mà phụng sự cho họ".

Mặc dù không được Triều đình trọng dụng nhưng lòng ông vẫn luôn hướng về vẫn mong được phò vua cứu dân. Tấm lòng ấy thể hiện rất rõ qua những bài thơ mà ông để lại: "Mặt trời cho dẫu không soi đến/Hướng dương xin vẫn nếp hoa quỳ" và ở hai câu thơ khác: "Ngụy Tào sống gửi Từ Nguyên Trực/Tần Lã không thờ Lỗ Trọng Tiên".

NTT - cả một đời vì đất nước vì nhân dân nhưng khao khát của ông không hề được toại nguyện. Ông ra đi giữa tuổi xanh tràn đầy nhiệt huyết (ông mất ở tuổi 43 trên quê hương mình tại Giáo xứ Xã Đoài). Chúng ta thiết nghĩ rằng nếu ông chưa vội ra đi nếu những bản điều trần đó được thực thi thì lịch sử Việt Nam sẽ có những bước ngoặt lớn: không lâm vào cảnh mất nước và đời sống nhân dân thời bấy giờ phải khốn khổ tình hình phát triển đất nước không bị tụt hậu như đã có trong lịch sử. Và để khi vĩnh biệt cõi đời này ông đã không phải nuối tiếc mà than thở rằng: "Một lỡ bước đi muôn thuở hận/Ngoảnh đầu nhìn lại đã trăm năm".

Thanh Hải.

More...

Uống rượu với nghệ sĩ

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha


Thánh Kinh có câu: "Rượu khiến cho nhạo báng đồ uống say làm người ta hỗn hào". Người đời lại nói: "Nam vô tửu như kỳ vô phong". Vậy uống rượu tốt hay xấu? Từ từ ta hãy xem cách uống rượu của văn nghệ sĩ.

 

Khi nhắc đến rượu ở trong giới văn nghệ sĩ cái tên mà tôi muốn đề cập đến đầu tiên đó là nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Nhiều người nói ông là "con sâu rượu". Nhưng nói như vậy có vẻ hơi quá vì những lúc "có rượu" là lúc thơ ông thăng hoa xuất thần. Anh em Văn nghệ sĩ ai cũng biết và thuộc lòng: "Em ơi lửa tắt bình khô rượu/Đời vắng em rồi vui với ai".


Nhà thơ Vũ Hoàng Chương


Vũ Hoàng Chương được mệnh danh là "nhà thơ say". Không phải là cái say "không còn biết chi đời" như ông đã nói mà chỉ là "gác mọi chuyện qua một bên để bay lên". Ta hãy đọc "Thơ say":

Hồn ngã lâu rồi nhưng chân còn dẻo
Lòng trót nghiêng mà bước vẫn du dương
Lòng nghiêng tràn hết yêu đương
Bước chân còn nhịp. Nghê thường lẳng lơ.

Đọc thơ xong ta thấy ông còn "khỏe lắm" chừng đó chưa "đủ đô" để quên hết chuyện đời. Men càng nồng. Thơ càng bay. Vũ Hoàng Chương vẫn thèm khát "được say" đến cùng tận:

Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ
Hãy thêm say còn đó rượu chờ ta!
Cổ chưa khô đầu chưa nặng mắt chưa hoa
Tay mềm mại bước còn chưa chếnh choáng
Chưa cuối xứ mê ly chưa cùng trời phóng đãng
Còn chưa say hồn khát vẫn thèm men.

Chưa thỏa được cơn khát ông giục giã:

Say đi em! Say đi em
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt
Rượu rượu nữa và quên quên hết!

Không phải tôi "bào chữa" cho cái tính rượu chè của Vũ Hoàng Chương. Nhưng sự thật nếu không có "hơi men" thì ông không thể làm được bài thơ hay như thế! Thơ và rượu đã là "bộ đôi" tự ngàn đời.

Khi Vũ Hoàng Chương xa lìa cõi tạm ra đi thi sĩ Bùi Giáng đã than thở: "Vũ Hoàng Chương đi rồi chỉ còn lại Bùi Giáng say và điên thôi". Đi đâu cũng vậy bên mình Bùi thi sĩ cũng có một bầu rượu một cái túi cói đựng đầy thơ và một cây bút để chép thơ khi có hứng. Ngày nào cũng đi cứ 200 mét thì dừng lại uống mấy ngụm "rượu suông" rồi mới đi tiếp. Khác với Vũ Hoàng Chương "say" là để "quên" Bùi Giáng "say" là để "tỉnh" say nhưng vẫn "đi làm" bình thường: Làm chim bay cò bay làm cảnh sát giao thông ngoài phố. Có bận nghe tin Kim Cương (người con gái mà Bùi Giáng yêu đơn phương và gọi cô là Hằng nga) hẹn đến chơi. Trong lúc chờ Kim Cương tới ông đã "giả vờ" uống say để cho cô "chăm sóc"!



Nhà thơ Bùi Giáng


Người thứ ba mà tôi muốn đề cập đến là Nhạc sĩ (NS) Trịnh Công Sơn. "Đô" của Vũ Hoàng Chương và Bùi thi sĩ còn thua xa NS Trịnh. Dùng từ chính xác thì phải gọi là "tiên tửu". Họ uống rượu nhưng Trịnh Công Sơn thì "ngửi rượu"! Lúc còn sống NS Mạnh Đạt (Hội viên Hội NS Việt Nam) có nói: "Người ta bảo Trịnh Công Sơn uống nhiều nhưng tôi thì không nghĩ thế. Những lần ngồi với nhau tôi chỉ thấy anh ấy "ngửi" rượu là chính. Anh ngửi và cứ thế bật lên tiếng lòng của mình trong từng ca khúc. Và điều đặc biệt dẫu không sống nhiều ở thành phố này nhưng trong NS Trịnh Công Sơn dường như thấm đẫm chất Đà Lạt trầm lắng thanh tịnh yên bình để viết để yêu...". Cách này chỉ có Trịnh Công Sơn mới "khổ luyện" được. Và cũng nhờ sự "khổ luyện" đó mà nhiều ca khúc hay của Trịnh còn lưu lại đến bây giờ. Mọi người yêu mến gọi những ca khúc của ông bằng hai từ tương ứng với một dòng nhạc riêng: "Nhạc Trịnh".


Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn


Có một nhạc sĩ khác cũng được xem là có "năng khiếu" uống rượu đó là NS Văn Cao. Thật ra ông ít khi uống mà nhiều hơn ông chỉ "ngồi thiền" trước chén rượu. Người ta nói những người uống rượu như thế là những người "mượn rượu" không phải chuyện mượn rượu giải sầu mà là mượn chuyện uống rượu mượn cái không khí rượu để ngẫm ngợi một điều gì đó chuyện trò tương tác những gì với bạn bè anh em hay cô đơn du hành trong tâm trí tới những vùng xa lạ nào của tâm tưởng.

Đúng là rượu gắn bó với phần lớn cuộc đời Văn Cao nhất là trong khoảng 40 năm cuối đời ông. Nhưng vì "rượu" theo kiểu riêng của ông như vậy nên thực ra lượng cồn chảy vào người Văn Cao không nhiều. Có những buổi Văn Cao chỉ ngồi trước độc nhất một chén rượu như thế thì rượu trong chén cũng đã nhạt hơi và theo lời khuyên của các thầy thuốc bây giờ đó chỉ là cách uống rượu dưỡng sinh. Nhưng kỳ lạ là khi Văn Cao uống rượu theo kiểu của ông với đám đàn em thì cách "rượu" của ông không hề ngăn trở hay làm mất hứng bất cứ ai trong bàn rượu dù đó là những anh chàng đang độ hảo hán coi vài ba chai sáu lăm như đồ bỏ coi vài chục vại bia hơi như trò súc miệng. Cái nét có thể gọi là đẹp bây giờ người ta hay gọi là "văn hoá" trong chiếu rượu của Văn Cao là ông biết chờ bạn rượu biết lắng nghe người khác nói dù đó là những đứa em út và khi tới lượt mình thì biết nói những điều tâm huyết biết kể chuyện đời một cách nhẹ nhàng và tuyệt đối không khoe khoang. Nghe Văn Cao bên chén rượu nói chuyện hay kể chuyện rất thích vì ta có cảm giác một không gian thân mật ấm cúng bao phủ cả chiếu rượu len lách vào từng người uống rượu và ngay khi nghe Văn Cao kể chuyện thì những chuyện buồn những chuyện đau đớn của ông vẫn lâng lâng. Người như thế không biết oán thù không sâu hận nhưng bao giờ cũng biết nhớ nhớ một cách rõ ràng chính xác từng chuyện một đã xảy ra với mình trong đời.


Nhạc sĩ Văn Cao


Tôi xin dừng lại ở đây. Vì nếu kể hết e không còn bút giấy. Và kết luận một điều: Cách uống rượu của văn nghệ sĩ hoàn toàn khác với nhiều người. Họ uống rượu không phải vì "nghiện rượu" mà rượu chỉ là cái cớ để cho những dòng cảm xúc vô hình bay lên. Chính vì thế mà chúng ta vẫn luôn trân trọng những người biết dùng rượu như họ. Và đừng như thế này là được rồi!


 

Thanh Hải.

More...

THUỞ ẤY MÙA ĐÔNG

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 

THUỞ ẤY MÙA ĐÔNG

                                                                                                                              Truyện ngắn

      

Phố vắng tịch liêu. Chỉ có mưa phùn buồn não nề. Ánh đèn vàng hiu hắt không soi rõ bước chân tôi bơ vơ trên hè phố. Gió càng về khuya càng lạnh. Mưa vẫn rơi rất nhẹ tôi dừng bước nhìn qua song cửa sổ phía bên kia đường: Ta sẽ về nơi đó không có mưa rơi gió lạnh nhưng cũng chẳng ai đón chờ ta ... Trong cuộc sống thường có những cuộc hôn phối bất thường tiềm ẩn bên trong cồm cộm những yếu tố nhị nguyên có thể đưa ta tới bến bờ hạnh phúc cũng có thể dẫn ta xuống vực thẳm đau buồn.

     Một chiều đông hoàng hôn nhuộm tím chân trời. Khép mình nơi quán cà phê lặng lẽ vọng mơ hồ âm thanh hoà tấu nhạc Trịnh lẫn trong tiếng nước chảy róc rách khuấy dậy hương cà phê đầm ấm. Nhấp một ngụm vị đắng ngấm đầu lưỡi tê tê rồi trôi tan để lại chút dư vị ngọt ngào nơi cuống họng ánh chiều đông cũng gom tụ về khung cửa nhỏ soi ngời đôi mắt tin yêu. Đang miên man trong chốn sương khói bảng lảng của nhạc Trịnh thì tiếng khóc đâu đó đưa tôi về với thực tại. Nãy giờ tôi mới nhận ra bàn bên cạnh còn có một người con gái. Máu hiệp sĩ nổi lên tôi tiến lại gần cô gái:

     - Xin lỗi! Hình như cô có chuyện không vui?

     - ...?

     Dưới bóng đèn nhờ nhờ tôi thấy một gương mặt cân phân đầy đặn chan hoà ánh sáng một vẻ đẹp trang nhã và cổ điển. Không ngờ cái lần vô tình gặp nhau ấy lại mở đầu cho một cuộc tình đầy xa  cách. Tôi giờ vẫn nhớ gương mặt em tóc ngắn lệ lăn tròn.

*

     Mùa đông. Phố chừng như ngái ngủ. Sương sớm li ti bay mờ mờ lành lạnh. Đường ngõ hun hút như một cái ống thông gió lao xao một mớ tạp âm những tiếng động ban mai. Tôi lâng châng thả bộ ra đường. Bất chợt:

     - Anh gì ơi!

     Tôi quay lại chưa kịp phản ứng gì thì em lên tiếng:

     - Anh không nhận ra em sao? Em là cô gái ngồi khóc trong quán cà phê hôm nọ ấy.

     - À! Ra thế. Trông cô bây giờ khá hơn rồi đấy!

     - Vâng! Em cám ơn anh. Em muốn đến xin lỗi anh vì đêm hôm ấy nhưng tìm mãi hôm nay mới gặp được anh.

     Một thoáng buồn lướt qua trên khuôn mặt thanh tú.

     - Không sao! Thấy cô như thế này là tôi mừng rồi. Thôi chào cô! Chúc một buổi sáng tốt lành!

     Đi được một quãng xa ngoảnh đầu lại. Ơ hay! Em hãy còn đấy. Để khỏi bất nhã tôi quay lại. Em mời tôi đến quán cà phê hôm nọ nhẹ nhàng ngồi đối diện tôi. Nửa đùa nửa thật tôi hỏi:

     - Ở cái thời buổi thật giả lẫn lộn này cô không sợ tôi sao?

     - Không!

     - Vì sao?

     - Những người yêu nhạc Trịnh đều là người tốt! - Em quả quyết.

     Một thoáng mông lung không ngờ nhạc Trịnh còn là tiêu chuẩn để em đánh giá nhân cách con người.

     - Vậy cho phép tôi được hỏi thật sao hôm ấy cô lại khóc?

     Sầu muộn hiện dâng trên gương mặt. Giọng em trầm buồn:

     - Em sinh ra trong một gia đình có thể nói là vương giả nhưng chẳng may từ nhỏ em đã phải chung sống với căn bệnh quái ác. Em sợ lắm! Nếu một ngày nào đó em không còn được sống trên cõi đời này...

     Giọng em run lên rồi tắt dần nhường chỗ cho những giọt nước mắt lăn tròn.

     Chẳng hiểu sao tôi lại cảm thấy mình phải có trách nhiệm chăm sóc em ngay bây giờ.

     Tôi bên em dài kín mùa đông vừa đủ nhóm lên ngọn lửa tình sưởi ấm hai trái tim cô đơn giữa những giá buốt sương giăng. Em có tôi như quên đi nỗi đau bệnh tật. Tôi thường cùng em ngắm trăng cho vẻ thánh thiện của mặt trăng bôi xoá những ưu phiền. Trăng hào phóng đổ ngập ánh bạc kiêu sa. Không gian sáng bừng lên cho phong cảnh thêm phần diễm lệ. Tôi nghiêng người trên đôi tay tuyết nhụy nồng ấm êm mịn của em thấy tâm hồn yên tĩnh lòng lâng lâng. Thật hạnh phúc khi có em bên mình.

     Thời gian êm đềm trôi. Cho đến một ngày căn bệnh cũ của em tái phát. Em muốn được ngắm ánh trăng xưa. Tôi dìu em đến công viên. Công viên đêm chủ nhật vắng và buồn. Em bên tôi yên lặng. Trăng muộn e thẹn như khuôn mặt cô gái quê đang nép mình sau những gợn mây. Gió mênh mang không lời. Thi thoảng em liếc xéo về phía tôi đầy trắc ẩn. Tôi nhận ra trên đôi mắt nhu huyền một thoáng buồn diệu vợi chợt đến chợt đi phảng phất như tiếng chuông xưa trôi lửng vào buổi chiều vàng nhẹ. Lâu sau em run run:

     - Yêu em anh thiệt thòi lắm phải không? - Ngừng giây lát em tiếp. - Anh hãy tìm cho mình một người phụ nữ rồi cố mà sống cho yên ổn với người ta và đừng bao giờ nghĩ đến em nữa.

     Tôi sợ thấy nỗi đau trong em liền hôn lên đôi mắt nhu huyền đang rớm lệ:

     - Anh không thiết. Chỉ cần được sống bên em anh không mong gì khác.

     Rồi chúng tôi ôm ghì lấy nhau những giọt nước mắt phục sinh ngọt ngào rỏ xuống như một bản thông điệp mưa từ tình yêu của hai con tim máy động. Suốt đời tôi chỉ mong được sống bên em yên ổn nhưng tôi không có cái số đó! Em đã ra đi để tôi mãi một mình lênh đênh đuổi theo những cơn đau mà tìm về với hoài niệm.

    

     Chiều chầm chậm buông trên lối về. Con đường mờ sương đẹp lạ lùng đằm thắm. Những cặp tình nhân thiêm thiếp dìu nhau dưới làn sương mỏng tang. Rét ngọt. Tôi như kẻ mộng du chợt gặp lại những thoáng rung động qua dư ảnh kỷ niệm xưa giữa thực tại và quá khứ trập trùng.

     Một tà áo xưa lồng lộng xô dạt trời chiều. Như con ong say mật đang vẽ lên cả một thênh thang bay bổng chất ngất thiên đàng! Tôi nhắm mắt lại những bước chân chạy dồn dập về dĩ vãng ngập tràn hương thơm hoa bướm. Ở đó em và tôi đã có cả một trời yêu với bao nhạc điệu vang lừng. Đang thăng hoa bay bổng tôi chạy tới ôm chầm lấy em cho thỏa những ngày mong nhớ ngờ đâu mầm tai hoạ đã dành sẵn cho mình. Một giọng nói đanh sắc lạnh vang lên kèm theo cái bạt tai nảy lửa:

     - Anh điên à? - Vẻ bực dọc lộ rõ trên gương mặt người con gái xa lạ mà bây giờ tôi chợt nhận ra. Tôi vội vàng xin lỗi nhưng đã muộn gã đàn ông đi cùng nện cho tôi một đấm xây xẩm mặt mày và ném những câu cay độc về phía tôi:

     - Đồ thần kinh! Ai là em của mày? Biến đi không tao đánh bỏ mẹ!

     Tôi điên? Tôi điên sao? Có thật là tôi điên không? À mà đúng. Có lẽ tôi điên thật!

     Rã rời buồn tôi đến quán cà phê định mệnh hôm nào.

     Quán cà phê vắng lặng vào những ngày cuối đông. Ngoài kia từng giọt sương lãng đảng nhẹ rơi trong không gian tịch mịch. Chỉ có tôi một mình đơn độc bên tách cà phê đắng ngắt cho hồn trôi về miền ký ức xa xăm và nhớ em đến nao lòng.

     Mùa đông giờ chỉ là kỷ niệm ngọt ngào một thuở tự sống dậy trong tôi để rồi đốt cháy thành đống than tình yêu trong vô vọng mà đơn độc sưởi ấm một mình. Những ngày đông muộn này em ở đâu? Có bao giờ em nhớ đến tôi? Đến một mùa đông có sương mờ giăng kín kỷ niệm của hai đứa mình? Còn gì nữa đâu. Tất cả chỉ còn là ký ức của những tháng năm hoài niệm. Em không còn chung lối với tôi. Em đã rẽ một con đường khác con đường của riêng em bỏ tôi giờ đây như một kẻ bộ hành ngất ngưởng trên con đường không quán xá vẫn còn ngơ ngác choàng ôm nỗi niềm hoa bướm chưa kịp cháy hết mùa đông đầu tiên hạnh phúc thuở nào. Những đêm không có em tôi tha thẩn nhìn bóng mình mờ mờ dưới ánh trăng suông - Trăng suông nhạt thếch dễ làm lòng người cô đơn héo úa. Trăng suông lơ lững và cô đơn giữa bầu trời cao thẳm. Ở một nơi nào đó em còn nhớ một nửa vầng trăng cô đơn cuối trời? Em còn nhớ một con đường có lá vàng mơ xoay tròn trong nắng thu?

T.C

More...

Đói...đầu gối cũng phải bò!

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 

Đức Trọng (Lâm Đồng)

Đói...đầu gối cũng phải bò!

Một người phụ nữ đã gần 50 tuổi bị bệnh hen suyễn nặng cộng thêm bệnh thấp khớp cứ hoành hành mỗi khi trái gió trở trời. Thế nhưng vẫn phải đi làm thuê để kiếm tiền nuôi cả gia đình với 8 nhân khẩu!

Từ một cảnh đời


Năm 1997 chị Tôn Thị Tèo (sinh năm 1959 quê gốc ở Thanh Loa - Cao Lộc - Lạng Sơn là người dân tộc Nùng) cùng với chồng mình là anh Lương Viết Ký (sinh năm 1963 cùng quê) khăn gói đi vào Lâm Đồng (khu phố 9 - tổ 12 - Liên Nghĩa - Đức Trọng) xây dựng kinh tế mới. Chẳng được bao lâu thì anh Ký bị tai nạn vụ tai nạn thảm khốc đã cướp đi của anh một chân bên trái để lại di chứng và mất sức 81% tạo hóa lại đeo thêm cho anh cái bệnh viêm gan mãn tính  từ một người lao động chính trong gia đình nay chỉ ngồi ở nhà bất lực trước thực tại chờ từng miếng cơm nơi người vợ. Chị Tèo một mình lam lũ nuôi cả gia đình sức người có hạn mà tiền kiếm được lại chẳng là bao cả tháng tiền công không đủ cho một lần đi bệnh viện của chồng. Bản thân chị lại đau yếu một mình trường trụ lại với bệnh tật mà bệnh như một kẻ thù lúc nào cũng muốn chiến đấu chống lại chị. Có những lúc lên cơn chị ngã lịm trong vườn chè mà không ai hề biết.




Gia đình anh chị ký (thiếu 2 cháu vì còn đi học). Ảnh: Thanh Hải



  Qua tháng năm chung sống trong khó khăn anh chị đã có với nhau được 5 mặt con đứa nào đứa nấy cũng ngoan và thông minh đứa lớn năm nay đã 14 tuổi đứa nhỏ chỉ mới lên sáu lại phải nuôi thêm mẹ chồng (bà Hoàng Thị Khâm đã ở tuổi ngoài 80 bị mù). "Một tháng tôi phải nghỉ làm hơn mười ngày chú ạ đó là những ngày bệnh nặng anh Ký thì đau bệnh suốt mấy đứa nhỏ nó ngoan lắm hai đứa út đã 7 8 tuổi rồi mà không được đi học nhìn chúng nó vẽ vời lên đất mỗi ngày làm bụng tôi đau không cầm được nước mắt nhưng vì hoàn cảnh gia đình nên đành chịu nhìn con không có cái chữ" - chị Tèo kể với chúng tôi trong nước mắt.

Đến căn nhà tình thương

            Nói là ở khu phố 9 của thị trấn Liên Nghĩa (người ta xếp gia đình anh chị vào khu phố 9 tổ 12 Liên Nghĩa là để quản lý hành chính) nhưng thực chất anh chị đang ở một căn nhà không số bên vách núi cách thị trấn Liên Nghĩa cả mấy cây số. Căn nhà đó là nhà tình thương được UBND huyện Đức Trọng xây cho và bàn giao ngày 20/10/2006 nhưng nay cũng đã tồi tàn.


Cảnh trong nhà anh Ký. Ảnh: Thanh Hải.



Chúng tôi ghé nhà chị Tèo nhìn trong nhìn ngoài chẳng thấy dù chỉ là một nguồn sống duy nhất mảnh vườn hẹp toàn sỏi đá với bà cụ già đã ngoài tám mươi ngồi xoài trước cửa có khi lại nằm ngay bên cây chuối vì sức đã quá yếu lại không thấy đường đi. Nhìn đám nhỏ lanh lợi và học giỏi năm nào cũng được giấy khen của trường đang đứng trước nguy cơ thất học chúng tôi không khỏi đau lòng. Mong rằng khi bài viết ngắn này lên khuôn sẽ có nhiều nhà hảo tâm chia sẻ với gia đình anh chị Ký giúp anh chị vươn lên trong bệnh tật giúp các cháu nhỏ được tiếp tục học có con chữ để mai này nhen lên những mầm sống mới.

Thanh Hải.

More...

Bức thư tình đầu tiên

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha


Bài hát: Bức thư tình đầu tiên

Nhạc sĩ: Đỗ Bảo

Ca sĩ: Tấn Minh.

Bức thư tình đầu tiên

Thời gian như bóng câu qua cửa sổ mới đó mà 6 năm 3 tháng 2 ngày đã trôi qua cái ngày tôi trao em bức thư tình đầu tiên cái thời còn ngây ngô và vụng về lắm. Em nhận thư ba ngày sau tôi có hồi âm: "em cũng mong là ngày mai nắng sẽ rất vàng gió sẽ thổi nhẹ và bầu trời thật xanh...".



Tôi viết bức thư ấy ngay sau khi nghe xong nhạc phẩm Bức thư tình đầu tiên của nhạc sĩ Đỗ Bảo do ca sĩ Tấn Minh trình bày. Không hiểu sao giữa ca từ của bài hát và những lời của trái tim tôi có một sự đồng cảm lạ lùng.

Ngày đầu chúng tôi gặp nhau đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ: có một chiều tôi vô tình thấy em đi ngang qua cửa lớp thoáng mắt em nhìn khiến tôi bối rối ánh mắt nhu huyền ấy vừa dịu dàng vừa như có một ma lực huyền bí cuốn hút tôi. Thế rồi đêm đó tôi mất ngủ. Tôi cứ hướng về một phía nào đó xa xăm và lòng tự hỏi: Em là ai? Tại sao em lại đi ngang qua lớp tôi? Em có biết rằng đêm nay trái tim tôi đang đi tìm kiếm ánh mắt đó của em không?

5 tháng sau.

Tôi và em (cô gái có đôi mắt nhu huyền ấy) đã gặp và trở nên thân thiết. Ngày nào chúng tôi cũng hẹn nhau trao cho nhau những món quà dù đó chỉ là mấy con hạc giấy hay dăm bông bưởi kết chuổi hình trái tim. Tôi hiểu em cũng như em hiểu tôi vậy từ sâu thẳm trong trái tim mình chúng tôi biết mình đã thuộc về nhau. Nhưng không hiểu sao tôi cứ muốn em phải được nghe tôi nói nói "những điều thật lớn lao" ấy. Dù em đã biết nhưng tôi chợt hiểu rằng em rất thích nghe tôi!

Thế rồi đêm ấy tôi đã viết thư cho em: "...em ạ! Anh mong ngày mai nắng sẽ rất vàng gió sẽ thổi nhẹ và bầu trời thật xanh sóng biển long lanh soi bóng em e ấp bên anh trong màu áo cưới. Em bước qua ngưỡng cửa cuộc đời vào căn nhà hạnh phúc của chúng mình cùng với trái tim yêu".

...."Anh muốn nói với em những điều thật lớn lao. Sẽ luôn ở đây nơi tim anh tình yêu bất tận. Em có biết không phút giây anh nghẹn lời? Vì biết rằng trong sâu thẳm trái tim em đã có anh. Anh muốn anh sẽ là người đàn ông của đời em chỉ mình em thôi! Anh đã mơ về ngôi nhà và những đứa trẻ mơ về nơi hạnh phúc của đôi ta. Vì yêu em anh tin ngày mai anh càng thêm vững bước dù trước mắt chúng ta còn nhiều chông gai nhưng em đừng lo anh sẽ vượt qua vượt qua tất cả. Em có nghe không? Em có nghe mùa đông mùa đông với những ngọn đèn vàng ngọn đèn đang sưởi ấm cho tình yêu của anh và em đó. Anh thấy rất nhớ em nhớ em lắm  trang thư này là tình yêu anh gửi đến em đây...".

Đọc thư tôi em vui lắm! Em như bị tôi "hút hồn" ngay từ những dòng chữ mà nào phải tôi tôi mượn lời của nhạc sĩ Đỗ Bảo! (cũng may là lúc ấy em chưa được nghe Bức thư tình đầu tiên!).

Tôi đùa một chút vậy thôi nhưng chính sự đồng cảm lạ lùng ấy và tình yêu chân thành của tôi em đã cảm nhận được em đã yêu bằng một tình yêu trong sáng không vụ lợi. Sự chân thành và tình yêu bất tận là sợi dây gắn kết chúng tôi lại với nhau không có gì chia lìa. Đúng như câu nói của một nhà Tâm lý học người Đức: "sự chân thành là nền tảng của một tình yêu đẹp".

Đến hôm nay cô bé ngày xưa có "đôi mắt làm tôi bối rối" đã trở thành vợ tôi - Một người vợ đúng nghĩa và bên cạnh cũng đã có những đứa con chúng y như ước mơ mà năm xưa tôi viết thư gửi cho vợ tôi vậy. Mỗi lúc chỉ có hai vợ chồng tôi thường mở bài Bức thư tình đầu tiên cho cô ấy nghe vào những lúc ấy tôi thấy vợ tôi rưng rưng hạnh phúc. Còn tôi đang miên man theo điệu nhạc: "Bạn đời ơi! Anh mơ mỗi sớm tỉnh giấc. Mắt anh kiếm tìm tai anh lắng nghe môi anh cất tiếng gọi và vòng tay anh rộng mở đón em vào lòng". Một ai đó đang mơ? Với tôi đã thành hiện thực!

Thanh Hải.

More...

Bùi Giáng điên vì ông quá tỉnh

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Tác giả: Thanh Hải Bài đã được xuất bản.: 23/12/2009 06:00 GMT+7 

Vietnamnet.vn (tuanvietnam.net).

Chàng "trung niên thi sĩ" ra đi đã lâu nhưng đây đó vẫn còn những giai thoại. Hình ảnh một "thi sĩ lập dị" vẫn không phai mờ trong lòng nhiều độc giả. Nhiếp ảnh gia Lâm Ngọc Duy kể về "niềm hạnh phúc nhất của cuộc đời" khi gặp Bùi Giáng.


Giấc mơ thành hiện thực


Vì hoàn cảnh nhưng cũng là một cơ duyên năm 1980 ông Duy rời Đà Lạt xuống Sài Gòn đem theo đứa con gái nhỏ sống vất vưởng dọc vỉa hè. Hai cha con tứ cố vô thân không nhà cửa hằng ngày ông Duy phải đi chụp ảnh dạo dọc đường phố Sài Gòn tìm miếng cơm bát cháo lay lắt sống qua ngày.

Một thời gian sau ông Duy may mắn gặp được nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh. Hai người trở thành bạn thân từ đó ông Duy thuê phòng trọ và được nhận vào làm trong Ảnh Viện Đống Đa trên đường Trương Minh Giảng.

Thi sĩ Bùi Giáng (Ảnh: Lâm Ngọc Duy)

Một hôm ông đi qua bùng binh Trương Minh Giảng thấy một ông già đang nhảy múa xung quanh con nít vây xúm rất đông. Cũng hiếu kì nên ông chạy lại xem ngó chừng dung mạo thấy giống Bùi Giáng được nghe qua lời kể của bạn bè ông Duy liền hỏi: "Xin lỗi! Có phải ngài là Bùi Giáng không?". Ông già nhướng mắt nhìn và hỏi lại: "Sao anh biết ta?". "Dạ con là độc giả của ngài đây hâm mộ ngài đã từ lâu nay mới được gặp thật là một cơ duyên!".

Bùi Giáng rẽ đám trẻ con ra cầm tay ông Duy kéo vào một con hẻm nhỏ trên đường Trương Minh Giảng. Tại đó hai người chuyện trò và Bùi Giáng đã chép thơ lên vỏ bao thuốc lá tặng ông Duy. Bài thơ chỉ có một câu: "Chép lời bờ cỏ ra hoa".

Nhìn câu thơ mà ông Duy vui mừng khôn tả thấy thơ lạ nên ông Duy hỏi: "Thơ ngài quả là siêu phàm con không hiểu được ý thơ?" nghe Bùi Giáng giải thích ông Duy lại càng kính nể và vui mừng hơn (nhưng vì lí do cá nhân nên ông Duy không kể lại lời giải thích của Bùi Giáng).


Theo dòng ký ức

Lâm Ngọc Duy (Ảnh: NLĐ)
Nghe Bùi Giáng giải nghĩa câu thơ xong ông Duy chở "ngài" trên xe đạp dạo quanh Sài Gòn". Lúc nào bên mình ngài cũng có bầu rượu và túi thơ như thế.  Và cứ khoảng 200 mét Bùi Giáng lại bắt ông Duy dừng lại tạt vào lề đường làm mấy hớp rượu rồi mới chịu đi tiếp. Đến ngã ba ngã tư có khi ngài lại xuống đường làm cảnh sát giao thông chỉ đường cho xe cộ đi lại! - ông Duy kể".

Sau cả ngày "du ngoạn" Bùi Giáng cho ông Duy địa chỉ nhà và dặn: "Anh muốn tìm ta thì đến đường Lê Quang Định cứ hỏi nhà của ông già điên thì ai cũng biết đến mà thấy ta bệnh thì ghé chơi còn ta khỏe thì im lặng mà về ta không tiếp" (những lúc bệnh là lúc ông ca hát nhảy múa làm cảnh sát...). Chiều tối ấy hai người từ giã nhau ra về ông Duy còn vui mừng lắm khi kể với chúng tôi ngày kỷ niệm đó.

Cách ít lâu sau ông Duy có đến tìm nhà Bùi Giáng mấy lần nhưng không lần nào gặp được. Người ta bảo: "Hôm nào ông cũng đi từ lúc 3 giờ sáng có khi cả nửa tháng mới về nhà". Rồi một bận ông Duy đi sớm. Lần đó ông mang theo bộ tách trà nhỏ với hai cái bánh pía và gặp được ngài trong một quán cà phê ở cuối con hẻm. Thấy ông Duy Bùi Giáng lên tiếng hỏi: "Sao anh biết ta ở đây?" "Dạ con đi tìm ngài mấy bữa nay mà không gặp hôm nay đi không ngờ lại tìm được ngài".

Tại quán cà phê đó ông Duy pha trà mời Bùi Giáng cúi xuống rồi đưa tay cao quá đầu nhận trà một cách lễ phép còn húp cả những giọt trà rơi xuống bàn. Cử chỉ của thi sĩ Bùi Giáng làm ông Duy nhớ mãi không quên. Bộ tách trà uống cùng Bùi Giáng hôm đó đến bây giờ ông Duy vẫn giữ và trân trọng.

Rời quán cà phê hai người dắt nhau qua chùa Liên Ứng tại đây ông Duy đã chụp những bức ảnh đầu tiên về Bùi Giáng.

Ngài lại làm thơ tặng ông Duy. Bài thơ không đề có đoạn viết: "Tăng thanh đầu ngọn yêu đào/Hắc phong hải ngoại tự trào hoàng hôn/Chẻ hai mảnh giấy vô hồn/Lầm sương lạc tuyết là cồn điếu tang/Còn nguyên phố thị hội đàm/Với trăng châu thổ muôn vàn dưới kia". Phía dưới có ghi "Thân tặng Lâm Ngọc Duy người bạn Quảng Ngãi (tôi bạn Quảng Nam) kí tên Bùi Giáng".

Vào cuối câu chuyện Bùi Giáng đề nghị: "Anh đưa ta về thăm nhà anh ta ở lại một đêm mai đi chơi tiếp". Ông Duy ở trọ trong căn nhà lá nhỏ chỉ có một chiếc giường đêm hôm ấy ông Duy mời thi sĩ lên giường ngủ. Bùi Giáng không chịu: "Ta nằm dưới đất quen rồi anh để ta ở đây thoải mái hơn".

Bùi Giáng tiếp: "Anh có làm thơ không? Cho ta coi?". Đọc xong Bùi Giáng khen hay và nói: "Hay anh in chung với ta một tập đi?" ông Duy khiêm nhường trả lời: "Tôi chỉ đáng xách dép cho ngài sao lại ngồi chung chiếu với ngài được".


Hai lần gặp "một đời" nhớ!

Thi sĩ Bùi Giáng (Ảnh: Lâm Ngọc Duy)

Sau đêm đó Lâm Ngọc Duy không được gặp lại cho đến khi Bùi Giáng qua đời. Thế nhưng những kí ức về thi sĩ  Bùi Giáng đến nay và suốt đời sẽ còn in đậm trong tâm trí ông. Những bài thơ ghi trên giấy vụn những tách trà xưa uống chung nhau những bức hình Bùi Giáng những tập thơ truyện dịch của Bùi Giáng đến nay ông Duy vẫn còn lưu giữ tất cả được ép được đóng khung và trưng trong tư gia một cách trang trọng.

Ai đó có dịp qua Đức Trọng (Lâm Đồng) nhớ ghé nhà Lâm Ngọc Duy.  Một căn nhà gỗ nhỏ nép giữa vườn cây cảnh và hoa hằng tháng ở đây vẫn có những đêm thơ hằng năm vẫn có những lần giỗ Bùi Giáng Trịnh Công Sơn và đặc biệt là được nghe ông kể về những kỉ niệm của ông với "Trung niên thi sĩ" "Trịnh nhạc sĩ".

Cuối cuộc trò chuyện chúng tôi hỏi ông Duy về những nhận xét riêng của ông đối với Bùi Giáng (về cuộc đời con người cũng như thơ của ông) ông Duy  trả lời: "Ngài là một Bồ Tát nghệ Sĩ người ta cứ nói là Bùi Giáng điên nhưng tối thấy ngài không điên họ nói vậy vì họ không biết Bùi Giáng điên vì ông quá tỉnh!".

T.H

More...

Trước thềm Festival Hoa Đà Lạt 2010

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha


Đà Lạt - Lâm Đồng

Trước thềm Festival Hoa Đà Lạt 2010


Chỉ còn khoảng hơn 2 tuần lễ nữa thì Festival Hoa Đà Lạt 2010 chính thức khai mạc (20 giờ ngày 02/01/2010). Một Festival hứa hẹn nhiều điểm mới bất ngờ thú vị và "vượt trỗi" hơn mấy Festival hoa trước. Công tác chuẩn bị cho Festival hoa được bắt tay từ giữa năm 2009 và đến nay về cơ bản đã hoàn thành sẵn sàng chờ đón ngày hội tưng bừng diễn ra.

 

Hoàn thành chỉnh trang đô thị

Nhằm đáp ứng nhu cầu phục vụ Festival Hoa Đà Lạt 2010 từ tháng 7/2009 UBND thành phố Đà Lạt và huyện Đức Trọng đã tập trung chỉ đạo hoàn thành các công trình hạ tầng; phát động phong trào trồng hoa trong nhân dân cơ quan đơn vị trường học cơ sở tôn giáo... trên địa bàn thành phố Đà Lạt và huyện Đức Trọng. Đến thời điểm này việc chỉnh trang đô thị về cơ bản đã hoàn thành những tháp hoa những con đường hoa và những tiểu cảnh bằng hoa đã sẵn sàng chuẩn bị cho ngày hội tất cả đều nhằm nêu bật lên chủ đề chính của Festival hoa năm này "Đà Lạt thành phố ngàn hoa".


Những công đoạn cuối cùng chuẩn bị Fesitival Hoa 2010 - Ành: Thanh Hải


"Đà Lạt thành phố ngàn hoa"


Là chủ đề của Festival Hoa Đà Lạt 2010 để làm nổi bật chủ đề đó đơn vị tổ chức (tỉnh ủy Lâm Đồng UBND tỉnh Lâm Đồng ban chỉ đạo Festival Hoa Đà Lạt 2010) đã xác định những mục đích và yêu cầu hướng đến một cách cụ thế ngay từ đầu.


Thứ nhất Festival Hoa Đà Lạt là lễ hội văn hóa mang tầm quốc gia và quốc tế; là thương hiệu lễ hội riêng của thành phố Đà Lạt. Festival Hoa Đà Lạt 2010 được Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch đưa vào một trong những sự kiện lớn của quốc gia chào mừng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.

 

Thứ hai Festival Hoa Đà Lạt năm 2010 là sự kiện văn hóa - xã hội - du lịch nhằm quảng bá thương hiệu thành phố Đà Lạt - Thành phố du lịch nghỉ dưỡng nổi tiếng của cả nước và thế giới; là thông điệp gửi đến nhân dân cả nước và thế giới về một thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng xinh đẹp năng động và đang phát triển; là điểm đến hấp dẫn của du khách.

 

Thứ ba Festival Hoa Đà Lạt năm 2010 tiếp tục khẳng định tôn vinh những giá trị về hoa và những người trồng hoa; là cơ hội để người trồng hoa Đà Lạt gặp gỡ giao lưu với những người yêu hoa người trồng hoa người kinh doanh hoa và nghiên cứu về hoa trong nước và thế giới.

 

Thứ tư Festival Hoa Đà Lạt năm 2010 là ngày hội của toàn dân Đà Lạt và du khách với sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân các tổ chức cá nhân doanh nghiệp trong cả nước và thế giới dưới sự lãnh đạo và điều hành trực tiếp của Đảng bộ chính quyền Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tỉnh Lâm Đồng thành phố Đà Lạt theo hướng hiện thực hóa và xã hội hóa các nội dung các hoạt động các chương trình lễ hội với tinh thần hiệu quả tiết kiệm ấn tượng.

 

Thời gian diễn ra lễ hội bắt đầu từ ngày 01/01/2010 cho đến ngày 04/01/2010 không gian lễ hội được xác định là thành phố Đà Lạt và huyện Đức Trọng. Theo ước tính ban đầu thì tổng chi phí cho lễ hội là 15 tỷ đồng (trong đó Ngân sách tỉnh là 5 tỷ và xã hội hóa là 10 tỷ). Cơ quan thực hiện gồm có: Ban Tổ chức Festival Hoa Đà Lạt 2010; Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch; Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Lạt và huyện Đức Trọng.

 


Tiểu cảnh hoa trên hồ Xuân Hương - Ảnh: Thanh Hải



Bình cũ "rượu mới"!

Rút kinh nghiệm Festival năm trước và đề phòng thời tiết xấu có thể xảy ra ảnh hưởng đến kết quả của lễ hội đơn vị tổ chức thực hiện đã có những biện pháp dự phòng kết hợp với hình thức "đa dạng hóa" các chương trình trên nền tảng "bình cũ" nhưng "rượu mới" nhằm thu hút du khách về tham dự.

 

Đặc biệt là một số chương trình như chương trình khai mạc với chủ đề "Hoa Đà Lạt sắc màu xứ lạnh" sẽ diễn ra vào lúc 20 giờ ngày 02/01/2010 trên sân khấu ven hồ Xuân Hương do UBND thành phố Đà Lạt thực hiện hứa hẹn mang lại cho du khách nhiều bất ngờ được đắm chìm trong hương vị Đà Lạt trong mùi hoa thơm pha lẫn cái lạnh mơn man của xứ sương mù; "Phiên chợ hoa Đà Lạt 2010" diễn ra trong 3 ngày từ ngày 02/01 - 04/01/2010 địa điểm trên đường Nguyễn Thái Học (đoạn đến bến Du Thuyền; dự kiến 70 - 100 gian hàng bán hoa); chương trình "Gala âm nhạc những ngôi sao trẻ" từ14 đến 20 giờ 30 ngày 03/01/2010 diễn ra trên sân khấu hồ Xuân Hương là nơi hội tụ những giọng ca ngọt ngào và có triển vọng sẽ mang lại cho du khách một đêm nhạc lưu luyến khó quên. Ngoài ra còn nhiều chương trình khác như hội chợ "Thương mại Quốc tế 2010" "Giải leo núi quốc tế chinh phục Langbian" "Đêm hội rượu Vang" "Giải golf Đà Lạt mở rộng"...và một số chương trình mở như "Ngày hội xe đạp đôi" "Hội thi cắm hoa" "Hội thảo khoa học về hoa" cũng góp phần làm phong phú thêm cho Festival Hoa Đà Lạt 2010.

Thanh Hải.

More...

“Đổng Trác” truy sát Lê Công?

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 

"Đổng Trác" truy sát Lê Công?

Gần đây có một sự kiện gây xôn xao làng nghệ sĩ (đặc biệt là trong giới văn nghệ tỉnh Lâm Đồng) sự kiện "bắt đầu" từ truyện ngắn Quán Dương Cầm của bà Đặng Thị Thanh Liễu cho đến cuộc chiến "không cân sức" của hai nhà nghệ sĩ đang diễn ra âm thầm trong "quyết liệt" và chưa có kết quả cuối cùng!


Từ văn bản truyện ngắn


Để làm rõ đầu đuôi câu chuyện tôi đã đọc Quán Dương Cầm hết ba lần. Thú thật trước đây tôi không hề biết Đặng Thị Thanh Liễu là ai nhưng sau vụ này chắc tôi không thể quên bà được. Nghe bà kể từ câu chuyện giữa bà với một người lính đã từng tham gia chiến đấu trên chiến trường Campuchia mà có truyện ngắn này. Câu chuyện tái hiện lại nửa cuộc đời của một "phế binh" sau chiến tranh trong tâm trạng muốn "nổi loạn". Bởi lẽ đó tác giả đã dùng những từ như:  Cuộc chiến khốn kiếp - Cuộc chiến chết tiệt - Chiến trường xa lạ hay gọi nhân vật bằng GÃ...Cũng chính từ những chi tiết ấy mà người ta cho rằng truyện ngắn này là "phản động" là "nguy hiểm" và "làm xấu đi hình ảnh của người lính Cụ Hồ". Nhưng thực chất họ đã "quan trọng hóa" vấn đề "chụp mũ" bà Liễu biến bà trở thành "bia đỡ đạn" thành con rối "cho cuộc đời dật dây" còn ông Lê Công chỉ là người "đứng mũi chịu sào".


Đến quyết định vội vàng


Người khơi mào vụ việc này là ông Trần Ngọc Trác (tôi trìu mến gọi ông là Đổng Trác) là một "nhân vật quan trọng" trong BBT tạp chí Langbian và hội VHNT tỉnh Lâm Đồng. Ông Trác cho rằng đây là một truyện ngắn có tính chất phản động nguy hiểm nên đã thông báo cho ban tuyên giáo tỉnh ủy (BTGTU) cho sở văn hóa thông tin (SVHTT) cùng với nhiều cán bộ cựu chiến binh sau đó tiến hành họp để kỉ luật bãi nhiệm TBT Lê Văn Công. Nói thì dễ "như giết một con ruồi" nhưng thực hành thì nào đâu có vậy!

 Thứ nhất những từ trong truyện như tôi vừa trích ở trên là lời của nhân vật mà tác giả muốn làm nổi bật ý tưởng tốt đẹp của câu chuyện lời ấy có thể ra từ miệng của một ông chủ tịch một bác bộ trưởng hay một tên đâm thuê chém mướn. Nếu cho rằng lời đó là phản động thì có lẽ Chí Phèo đã không trở thành nhân vật điển hình và truyện ngắn cùng tên đã không trở thành bất hủ. Mở đầu truyện ngắn ấy là tiếng chửi "không chừa một ai" nói như thế thì Chí Phèo chửi cả ông chủ tịch cả bác Bộ trưởng! Tại sao lúc đó ông chủ tịch không đi thưa kiện Nam Cao? Sao bác Bộ trưởng không cấm lưu hành truyện ngắn Chí Phèo?

Thứ hai để kỉ luật hay bãi nhiệm một TBT thì đâu có thể là việc của một hai người mà cần phải có một hội đồng thẩm định tác phẩm sau đó sở VHTT và cơ quan chức năng mới ra quyết định cuối cùng. Như vậy việc ông Trần Ngọc Trác "đơn phương" làm việc và "thâu tóm" mọi chuyện là sai nguyên tắc. Hơn nữa ông Trác cũng là một thành viên trong BBT nên nếu có quy trách nhiệm thì ông Trác cũng phải gánh chịu hậu quả.

Cuộc "cách mạng nhung"

 

Nhiều người cứ ngỡ sự việc bắt đầu từ Quán Dương Cầm nhưng thực ra đây chỉ là "giọt nước tràn ly". Có người nghệ sĩ bảo tôi rằng "hắn làm cuộc cách mạng nhung để chơi anh" tạm hiểu "nhung" là mềm mại "cách mạng" là sự đánh đổi cái cũ để lấy cái mới và cái mới thì tốt đẹp hơn. Vậy thì "cách mạng nhung" là dùng sự mềm mại để đấu tranh lấy cái mới tốt đẹp! Nhưng đáng tiếc thay nhung (sừng hươu non) già  thì thành "sừng nhọn" châm chọc nhau gây tổn thương nhau. Và cứ cho cuộc cách mạng này thành công thì cái "mới" liệu có tốt đẹp hơn không? Tiếng cười khoái chí của một kẻ lật đổ người khác được xây trên nền của những thủ đoạn liệu có vững bền không? Không!

 

 "Bầu ơi thương lấy bí cùng/Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn". Cùng ra từ trường viết văn Nguyễn Du cùng trong một hội VHNT cùng một BBT tạp chí đáng lẽ ra phải đùm bọc nhau chứ? Đáng lẽ ra phải nương vai nhau mà tiến lên chứ? Langbian đang tuổi dậy thì phải chăm lo "sức khỏe" cho nó chứ? Sao lại cứ lao vào vết xe đổ của hội VHNT Bình Định? Những câu hỏi này tôi dành để ông Trác với độc giả trả lời.

Trong khoảng thời gian gần đây trước tình hình có nhiều người ủng hộ anh Lê Công dám bỏ "tình thân" mà xoay hướng về lẽ phải thì cục diện cuộc chiến có sự thay đổi. Bên nguyên đang chuyển dần sang "diễn biến hòa bình" "lấy lòng người". Còn bên bị cáo thì đang trông chờ cán cân công lý với lòng tin chắc rằng "cây ngay không sợ chết đứng".

 

T.H

More...