Đã tắt lặng Cây đàn thơ Hoàng Cầm

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Đã tắt lặng Cây đàn thơ Hoàng Cầm

Tác giả: Kim Dung- Phan Chí Thắng. Bài đã được xuất bản.: 06/05/2010 12:25 GMT+7.

Cây đàn thơ Hoàng Cầm đã tắt lặng nhưng dư âm của nó vẫn ngân nga vọng mãi trên thi đàn trong lòng người và nhân thế...

Thế là giữa cuộc đời dâu bể này đã tắt lặng cây đàn thơ điệu nghệ- Hoàng Cầm. Dù thông tin ông ốm nặng khó bề qua khỏi lặng lẽ truyền đi trong giới văn chương và những người yêu thơ ông từ khá lâu. Nhưng tin ông ra đi vẫn khiến văn đàn và không ít người ngưỡng mộ ông hụt hẫng thương tiếc xót xa. Dẫu biết tử sinh là lẽ thường tình...

Bởi cái tên Hoàng Cầm- mà người viết bài này tự đặt - Cây đàn thơ- không chỉ được tạc trong "từ điển văn chương" của nước Việt mà từ lâu đã "tạc" trong tâm thức của những người yêu cái đẹp của thi ca mà nhờ đó trên hành trình của kiếp người giữa bao nhiêu nhọc nhằn biết "vịn câu thơ mà đứng dậy" (Phùng Quán).

Một cuộc đời thấm đẫm chữ Tình

Ông tên thật là Bùi Tằng Việt sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922 tại xã Phúc Tằng (Việt Yên Bắc Giang); nhưng quê gốc của ông ở xã Song Hồ huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh quê hương của những làn điệu quan họ óng ả tình tứ trong một gia đình nhà nho lâu đời. Cụ thân sinh ông thi không đỗ về dạy chữ Hán và làm thuốc bắc ở Bắc Giang. Tên ông được đặt ghép từ địa danh quê hương: Phúc Tằng và Việt Yên.

Thuở nhỏ ông học tiểu học trung học ở Bắc Giang và Bắc Ninh. Năm 1938 ra Hà Nội học Trường Thăng Long. Năm 1940 ông đỗ tú tài toàn phần và bước vào nghề văn dịch sách cho Tân dân xã của Vũ Đình Long. Văn chương trong đó kịch nghệ và thi ca với ông dường như là một duyên nghiệp một duyên trời định. Và mảnh đất Kinh Bắc tài hoa làng nghề tài hoa các làng quan họ như có sứ mệnh tạo nên một thi nhân- một cây đàn thơ lóng lánh muôn điệu: "Cúi lạy mẹ con trở về Kinh Bắc/ Chiều xưa giẻ quạt voi lồng/ Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc/ Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông... hay Sông Đuống trôi đi/ Một dòng lấp lánh/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ...

 

Nhà thơ Hoàng Cầm (bên phải) và nhà văn Kim Lân - ảnh chụp năm 2003 Ảnh Nhasachtritue

Ông lấy bút danh Hoàng Cầm tên một vị thuốc đắng trong các vị thuốc bắc. Ông chọn tên vị thuốc đắng cho mình như một ám ảnh một linh cảm của tâm hồn thi sĩ bẩm sinh quá nhạy cảm? Hay chính định mệnh khắc nghiệt đã chọn sự cay đắng "tặng"cho số phận ông?

Không biết nữa!

Chỉ biết chẳng có người yêu nước nào dù bé nhỏ đến đâu vào thời tao loạn của dân tộc có thể đứng ngoài lề. Đời ông có đủ đầy cung bậc thăng trầm của một người nghệ sĩ chân chính. Năm 1944 vào đúng lúc Thế chiến II diễn ra khốc liệt ông đưa gia đình về lại quê gốc tại Thuận Thành bắt đầu tham gia hoạt động Thanh niên Cứu quốc của Việt Minh. Cách mạng Tháng Tám bùng nổ ông về Hà Nội thành lập đoàn kịch Đông Phương. Khi chiến tranh Đông Dương bùng nổ ông theo đoàn kịch rút ra khỏi Hà Nội biểu diễn lưu động ở vùng Bắc Ninh Bắc Giang Sơn Tây Thái Bình...

Tháng 8 năm 1947 ông tham gia Vệ quốc quân ở chiến khu 12. Cuối năm đó ông thành lập đội Tuyên truyền văn nghệ đội văn công quân đội đầu tiên. Năm 1952 ông làm Trưởng đoàn văn công Tổng cục Chính trị hoạt động biểu diễn cho quân dân vùng tự do và phục vụ các chiến dịch.

Tháng 10 năm 1954 giải phóng Thủ đô đoàn trở về Hà Nội. Do mở rộng thêm nhiều bộ môn năm 1955 Hoàng Cầm được giao nhiệm vụ trưởng đoàn kịch nói. Nhưng trước đó từ năm 1945 ông đã nổi tiếng vì đóng góp không nhỏ cho sân khâu kịch nghệ Việt Nam với hai vở kịch thơ: Hận Nam Quan và Kiều Loan.

 

Lão nhà thơ Hoàng Cầm Ảnh TN

Hòa bình được lập lại cuối năm 1955 ông trở về công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam làm công tác xuất bản. rồi tham gia thành lập Hội Nhà văn và được bầu vào Ban chấp hành. Rồi giữa lúc cuộc đời tưởng như yên ả nhất ông bị cuốn vào bão tố của vụ án "Nhân Văn Giai Phẩm" buộc phải rút khỏi Hội Nhà văn- năm 1958 và về hưu non năm 1970 lúc mới 48 tuổi cái tuổi sung sức nhất của sáng tạo.

Nhưng ẩn dật trong thi ca lấy thi ca làm mái chắn che chở cho sự bình yên của tâm hồn và con tim không ngừng náo động bồn chồn vì yêu- đời ông sống được bởi chữ Yêu- ông vẫn tiếp tục thai nghén sáng tác trong âm thầm lặng lẽ trong bóng tối của số phận bất ngờ... Bởi những người vợ của ông-  như Tuyết Khanh như Hoàng Yến dẫu mặn nồng hương lửa cũng đã lặng lẽ bỏ ông ra đi về nơi cuối trời.

Hành trình cuộc đời ông là hành trình của những tập thơ nổi tiếng: "Tiếng hát quan họ" "Men đá vàng" "Mưa Thuận Thành" và đặc biệt là "Về Kinh Bắc"...Một cuộc đời hoạt động sôi nổi khi thăng khi giáng lúc ấm áp lúc cô đơn nhưng luôn thấm đẫm chữ Tình: Yêu nước- yêu người- yêu đời dù không ít cay đắng và bi kịch số phận cá nhân.

Đôi khi người viết bài này tự hỏi trong những đêm dài giá lạnh của cõi nhân gian ông nghĩ gì và tìm cho mình cuộc sống như thế nào nhỉ? Bỗng nhớ tới cái quán rượu số 43 con phố nhỏ Lý Quốc Sư. Rượu và Thơ- hai người bạn "tâm giao" không thể thiếu để đến lượt ông "vịn" vào trong hành trình còn lại dằng dặc cô độc dù có thể lúc này lúc khác bạn bè vẫn thăm hỏi...

Cho đến năm 75 tuổi cái chữ Tình thấm đẫm cuộc đời ông như được kết tinh nhất ngọt ngào nhất đằm thắm nhất ở tập "Thơ Hoàng Cầm- 99 tình khúc".

Còn sự bình yên với nhân thế phải gần 40 năm sau mới đem đến cho con tim người nghệ sĩ tài hoa. Đầu năm 2007 ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật do Chủ tịch nước ký quyết định tặng riêng.

Lá Diêu bông- hành trình kiếm tìm hạnh phúc

Trong tài sản thơ phú giầu có của ông Hoàng Cầm có rất nhiều tác phẩm ngay cả khi chưa công bố đã được "ngôn truyền" trong công chúng. Và khi cất tiếng hoan ca nó đủ sức lay động tới con tim mọi giai tầng. Lá Diêu bông là một bài thơ có số phận "hạnh phúc" như thế cho dù nó nói về nỗi bất hạnh- hay hạnh phúc "ảo" của kiếp người.

Bài thơ dạng kể chuyện ngắn gọn đến mức tiêu biểu cho sự hàm súc hàm súc từ hình ảnh đến ngôn từ khó có thể lược bớt đi một từ nào trong bài thơ.

Câu chuyện có hai nhân vật: Em - tác giả và Chị - đối tượng mối tình thơ ấu của ông. Người ta thường cho rằng bài thơ nói về mối tình đầu đơn phương mộng ảo của người nghệ sỹ tài ba. Nhiều người đã kiếm tìm để biết thêm về cuộc sống tình duyên của hai nguyên mẫu - tác giả và chị Vinh khai thác sâu các tầng bậc chất lãng mạn trong con người và thơ Hoàng Cầm.

Nhưng thực ra ngoài phần nổi của bài thơ đã là khá đẹp và hấp dẫn còn có phần chìm phần hồn- đó cũng chính là thông điệp của của bài thơ nữa. Cũng giống như người đi tìm trầm hương cái lõi trầm bên trong mới thực sự quý giá.

 

Nhà thơ Hoàng Cầm. Tranh sơn dầu của họa sĩ Đinh Quang Tỉnh

Ta hãy quay lại bài thơ và cùng thưởng thức nó.
"Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng
Chị thẩn thơ đi tìm
Đồng chiều - cuống rạ"

Chỉ với ba câu tác giả giới thiệu ngay với chúng ta nhân vật chính: Cô thiếu nữ dậy thì mặc váy (con gái Đình Bảng từ tuổi nào đó mới mặc váy) đang vu vơ đi tìm một cái gì đó phi vật thể giữa cuống rạ đồng chiều (có phiên bản chép là thẫn thờ đúng ra phải là thẩn thơ chữ thẫn thờ không hợp với tuổi thơ).

Đồng thời tác giả cũng đã tự giới thiệu về mình: Một chú nhi đồng. Một người trai mười tám chắc đã tả "em" nào là hai mắt lá răm nào đôi môi hồng nào làn thu thuỷ nét xuân sơn v.v. Còn chú bé nhi đồng chắc chắn chưa hề biết về những cái đó chú chỉ nhìn thấy có mỗi cái váy (chắc vì ngang tầm mắt của chú!).

Tuổi Trẻ ngày nay ít người biết cửa võng là gì. Cửa võng- một thứ cửa làm bằng gỗ hoặc vải thêu nhà giàu thì sơn son thếp vàng hình chữ ∏ ba bên chạm trổ nhiều hoạ tiết hoặc ghép thêm những chi tiết phụ nhằm tăng thêm sự cầu kỳ của cửa.

Váy buông chùng cửa võng nghĩa là hai thân váy thu sang hai bên rồi buông chùng xuống. Có thể Chị chưa hết tuổi lớn nên váy mặc còn tém sang hai bên như cửa võng.

"Chị bảo đứa nào tìm được lá diêu bông
Từ nay ta gọi là chồng"

Chắc hẳn có mấy chú bé nhằng nhẵng bám theo nên chị nói cho qua chuyện. Xin lưu ý chữ "bảo" không phải Chị nói mà là bảo bảo là khi người trên nói với người dưới. Hơn nữa Chị chỉ gọi là chồng như một trò chơi đóng giả vợ chồng con cái của trẻ con chứ không như Trần Tiến "Em đố ai tìm được lá diêu bông xin lấy làm chồng"

"Hai ngày em tìm thấy lá
Chị chau mày đâu phải lá diêu bông"

"Chau mày" không phải vì thằng bé dốt quá làm gì có lá Diêu bông (lá Diêu bông là do nhà thơ sáng tạo ra có thể hiểu là lá của một loài hoa phiêu diêu không có thực giống như hạnh phúc ở trên đời này vậy cũng là một cái gì đó hư ảo). Hãy phân tích tiếp xem vì cái gì.

"Mùa đông sau em tìm thấy lá
Chị lắc đầu trông nắng vãn bên sông"

"Lắc đầu là một động tác mạnh hơn "chau mày" cộng thêm động tác nhìn về phía xa xa như trông đợi một cái gì đó.

"Ngày cưới chị em tìm thấy lá
Chị cười xe chỉ ấm trôn kim"

Chữ "cười" ở đây cho ta lời giải thích vì sao chị "chau mày" và "lắc đầu" ở hai thời điểm trước đó. Nghiã là chị đã đi tìm đã mong mỏi hạnh phúc lứa đôi. Khi làm đám cưới chị cảm thấy hạnh phúc mãn nguyện (có bản chép xe chỉ cắm trôn kim hay ấn trôn kim nghe thô lỗ quá ấm trôn kim mới đúng nó nói lên người con gái đã sẵn sàng cho vai trò làm vợ may vá thêu thùa giữ gìn mái ấm gia đình).

"Chị ba con em tìm thấy lá
Xoè tay phủ mặt chị không nhìn"

Khi đã có ba con lúc nghe nhắc lại lá Diêu bông Chị có thái độ hoàn toàn thất vọng không còn muốn nhìn thấy một sự thật phũ phàng: Làm gì có hạnh phúc lứa đôi trong cuộc đời Chị cái hạnh phúc mà Chị mong mỏi khi nhẩn nhơ đi tìm trong đồng chiều cuống rạ trước đây?

Từ thuở ấy
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi.
Diêu Bông hời...
ới Diêu Bông!

Khổ cuối của bài thơ như một lời kết cho câu chuyện như láy lại sự kiên trì ngây thơ suốt cả cuộc đời "Em" trong mối tình vô vọng với "Chị" như một lời than cho số phận bất hạnh của người đàn bà nói riêng và kiếp người nói chung.

Bài thơ thoạt tưởng chỉ là kể về câu chuyện tình liêu trai bất thành mà thực ra nó là khúc ca xót xa khóc cho người mình yêu chứ không phải là than thân trách phận. Nó triết lý về hành trình tìm kiếm hạnh phúc đời người. Và nó nói hộ nỗi lòng khát khao. Ai đọc cũng thấy mình trong đó...

Hạnh phúc chỉ là ảo. Nhưng người ta vẫn không ngừng kiếm tìm...

Vì khát vọng vẫn mạnh hơn ảo vọng. Đó là cái lẽ bài thơ Lá Diêu bông luôn được mọi lớp người yêu thích nhập tâm suốt hơn nửa thế kỷ qua.

Và vì thế cho dù tiếng tơ đồng của  cây đàn thơ Hoàng Cầm đã tắt lặng nhưng dư âm của nó vẫn ngân nga vọng mãi trên thi đàn trong lòng người và nhân thế...

More...

“Ta đi làm ánh sao băng giữa đời”

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha


Bài đã được xuất bản lúc 9:12:35.
Ngày 03/05/2010 - Tác giả: Thanh Hải


"Ta đi làm ánh sao băng giữa đời"


"Trong hi vọng dày vò ta trông ngóng/Những phút giây giải phóng thiêng liêng" - Dưới những trang nhật ký của nữ nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý (DTXQ) thường có ghi hai câu thơ trên của nhà thơ Puskin.

NVLS DTXQ. Ảnh: HT

DTXQ sinh ngày 19 tháng 4 năm 1941 tại Hà Hội trong một gia đình trí thức yêu nước quê quán thôn Phú Thị xã Mễ Sở huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên. Thuở nhỏ chị theo gia đình lên Thái Nguyên tham gia kháng chiến. Sau ngày giải phóng Thủ đô chị về Hà Nội học phổ thông cơ sở tại trường Trưng Vương sau đó học trung cấp Mỏ tại Quảng Ninh rồi theo học khóa báo chí do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức. Tốt nghiệp chị về làm phóng viên báo Phụ Nữ Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1968.

Tháng 4 năm 1968 chị gửi con nhỏ mới 16 tháng tuổi cho thân mẫu nuôi dưỡng lên đường vượt Trường Sơn vào chiến trường làm phóng viên Tạp chí Văn nghệ Giải phóng thuộc Ban Tuyên huấn Khu 5. Ngày mùng 8 tháng 3 năm 1969 trên đường công tác chị hy sinh trong một trận càn của giặc Nam Triều Tiên tại thôn Thi Thại xã Duy Thành huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam. Chị ra đi ở tuổi 28 giữa phơi phới thanh xuân tràn đầy sức viết và khát vọng sáng tạo.

Đầu năm 2007 Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã ra mắt tập sách "Dương Thị Xuân Quý - Nhật ký - Tác phẩm" giới thiệu nhật ký chiến trường truyện ngắn bút kí trong đời cầm bút ngắn ngủi của chị cuộc đời sáng mãi tấm gương một nhà văn chiến sĩ.

"Lên đường chính là phút giây mình phấn khởi nhất"

Trang đầu cuốn nhật ký của DTXQ  ghi những ngày cuối ở Hà Nội và những ngày đầu vượt Trường Sơn kèm theo một câu thơ: "Ta đi làm ánh sao băng giữa đời" ký thêm "Hà Nội - Trường Sơn 1968". Nhớ ngày đầu lên đường DTXQ viết:

"4g chiều ngày hôm qua 11-4-68 ôtô chuyển bánh rời trường 105. Thế là cuộc hành quân vĩ đại của mình thực sự bắt đầu sau những ngày chuẩn bị ráo riết. Nếu không thực sự khoác ba lô thì mình không thể thấm thía một cách sâu sắc những trang bị đầy đủ của đảng đối với từng người   mà những người như mình thì có là cái gì đâu...Nhưng tất cả đều được chuẩn bị chu đáo hơn cả những người vợ chuẩn bị cho chồng và những người mẹ chuẩn bị cho con (...).

Mình đã làm quen với đôi dép cao su từ một tháng nay. Bây giờ chính thức mang nó lên đường. Lần đầu tiên trong đời mình có một đôi dép vừa vặn như thế. Tất cả những trang bị cho cuộc đời "xê dịch" đó gây cho mình một cảm giác thú vị. Mình cảm thấy cuộc đời mình đang mở ra một giai đoạn mới. Vì vậy giây phút lên đường chính là giây phút mình phấn khởi nhất" (Trích nhật ký ghi lúc 10g30 sáng ngày 12-4-1968 tại Lạc Sơn Hòa Bình).

Những ngày ở chiến trường

Những ngày đầu ở chiến trường dù phải xa con xa chồng. Nhưng trong lòng nữ nhà văn trẻ vẫn đầy lạc quan tin yêu. Vì bây giờ chị không chỉ là một người mẹ người yêu mà còn là một nhà văn một chiến sĩ:

"Tới trạm 13 từ 1g30 đêm hôm qua. Mình đã vượt được một thử thách đầu tiên để kỷ niệm ngày sinh nhật lần thứ 27 của mình. Hôm nay ở trong ấy chắc Anh (nhà thơ Bùi Minh Quốc) cũng nhớ và nghĩ về em. Anh đã biết tin em vào với Anh chưa? Có thể không cùng công tác với Anh nhưng cũng chung một chiến trường và như thế là gần đến với anh rồi phải không? Thế là 3 ngày sinh nhật rồi em có Anh mà vẫn chẳng có Anh. Bao giờ ở bên anh để được anh tổ chức một ngày kỷ niệm nho nhỏ cho em nhỉ. Anh mà không nhớ 19-4 thì khi gặp em sẽ phạt anh đấy. Bây giờ em không nhượng bộ anh như trước nữa đâu. Em sẽ thi hành kỷ luật hẳn hoi.

5g30 chiều qua bắt đầu xuất phát. Chiếc ba lô của mình có cả 2kg5 gạo thịt kho và đủ thứ trên đời trút xuống đôi chân nhỏ quá khổ của mình. Tất cả khoảng 32 đến 35kg. Hành quân trên một đoạn đường 18km nhưng vì nhầm nên phải đi 19km. Đi được một giờ ven một vùng đồi trọc xuyên giữa bãi sim và thanh hao thì trời tối sập xuống. Sim đang phơi những chùm nụ trắng tròn mọng căng lác đác một vài bông hoa đã nở khoe màu tím chung thủy và thương nhớ. Khi bóng tối trùm xuống thì mặt đường chìm đi (...). Thế rồi trong tiếng bom tiếng may bay của giặc Mỹ bọn mình vẫn đi. Đi. Đi...Bộ đội mũ giải phóng ba lô con cóc nhan nhản. Mình nhẩm "Đường ra mặt trận" của Anh ấy đúng quá.

...Chúng ta đi rầm rập triệu bàn chân

Cả đất nước cùng ta nhịp bước

Mắt dõi hướng miền Nam

Ôi miền Nam thịt xương ta đang giục".

(Trích nhật ký ghi lúc 9g45 sáng ngày 19-4-1968 tại xã Hương Xuân Hương Khê Hà Tĩnh


Nhà thơ Bùi Minh Quốc - Chồng NVLS DTXQ

Rồi những lần hành quân trên nước bạn Lào tươi đẹp dù nơi đó không phải là quê hương mình nhưng chiến đấu vì chính nghĩa chị vẫn vui mừng ra đi:

"Mình tới trạm 1 của đất nước Lào từ 3g30 chiều hôm qua. Thế là mình không còn ở Việt Nam nữa. Nhớ ngày nào mình thèm được đi Lào như anh. Bây giờ thì mình đã thực hiện được ước mơ đó (...). 6g sáng hành quân 1g30 chiều đến bãi trú quân thuộc trạm 4. Những khẩu hiệu và chiếc cổng chào quen thuộc của một trạm trú quân dọc đường lại hiện ra. Nhớ hôm đến trạm 2:

Ơn Đảng nặng thù giặc sâu

Bắt dốc Năm Thang phải cúi đầu

Dốc năm Thang cúi đầu rồi hôm nay bọn mình vượt một cái dốc 520 bậc nữa và vượt qua cầu sông Xê-pôn. Sông Xê-pôn nhỏ nước xanh biếc như nước hồ Hoàn Kiếm. Hai hôm nay bọn mình đã tắm rửa trên dòng Xê-pôn của miền Trung Lào sau khi rời dòng suối ở cửa hang trạm 1 thuộc tỉnh Khăm Muộn. (Trích nhật ký ghi ngày mùng 2 mùng 6 tháng 5 trên nước bạn Lào).

Biết rằng lên đường là sẽ gặp khó khăn thử thách và hơn thế nữa là chịu chết nhưng bước chân người chiến sĩ vẫn không hề lùi. Những cơn đói sốt rét ruồi mòng...không ngăn nổi niềm tin của họ vì tương lai đất nước đang mở ra (mặc dù đôi lúc các chiến sĩ phải "than thở" trước nghịch cảnh nhưng đó là cái than thở rất người khổ mà chấp nhận đau mà vững tin hơn):

"Suốt đêm bom và đại bác rung đất B57 B52 dội xối xả. Sống giữa cảnh mặt trận nguy hiểm nhưng cảm giác của mình là say mê thú vị. Lạ thế. Biết là nguy hiểm lắm nhưng sẵn sàng lao vào dù có hy sinh. Đời người ai chả chết. Dĩ nhiên mình có nghĩ đến đau khổ của anh và Ly. Nhưng cái gì rồi cũng sẽ qua thôi. Đó là ý nghĩ của mình khi được phân công đi công tác Quảng Đà từ nay đến cuối tháng 3-1969...Lo mình lo chứ. Nhưng mình quyết tâm và mình nghĩ thế này: Dù có chết thì cũng như bao nhiêu người đã chết thôi. Nghĩ vậy mình không thấy sợ  nữa".

(Trích nhật ký ghi ngày 15-12-1968).

"Càng vào gần nhà bom càng nhiều. Cả một khoảng rừng bị bạt đi vì bom. Nước suối vẫn còn đục ngầu vì đất xói lở và ghê ghớm hơn là ngay trước cửa nhà Văn Nghệ một hố bom sâu hoắm tròn loe ra như một cái ao lớn nằm lù lù chắn lối vào nhà một cây to đổ ngang. Cửa bật tung. Đất bắn vào quanh nhà lầm bụi. Thì ra ngay chưa đầy một ngày sau khi bọn mình chuyển bom đã dội xuống. Lại một lần thoát chết". (Trích nhật ký ghi ngày 29-7-1968).

 Bom đạn sốt rét ruồi vàng đói ăn...chị đều chịu được hết. Nhưng nổi nhớ con cứ thường trực là một nỗi khổ lớn nhớ con chị làm thơ tặng con: "Ô con cười con cười/Môi lần đầu hé nở/Là lúc bom thù rơi/Tiếng rung xô bật cửa" (Nụ cười của con) và chính con đã tiếp thêm sức mạnh cho chị vững bước: "Dù bao nhiêu lận đận/Dù trăm dốc nghìn đèo/Có mắt con dõi theo/Mẹ bổng thêm sức mạnh" (Ánh sao).

Càng đến gần ngày thắng lợi chiến tranh càng ác liệt. Tâm hồn chị lại thấm thía hơn thực tại của chiến tranh:

"Chúng nó đánh Quảng Đà điên cuồng. Văn công Quân khu trúng bom. Đau quá. Trong tình cảnh đó hội nghị sáng tác vẫn họp mỗi đại biểu được ăn hai lon rưỡi một ngày. Ban tuyên huấn lại cho hai hộp cá và hai ống mì. Thật là một ưu tiên lớn. Chiều nay lại lên cơn sốt. Lại ký ninh khổ". (Đây là dòng nhật ký cuối cùng của DTXQ đề ngày 17-12-1968).

Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ở chiến trường nhà văn-chiến sĩ DTXQ đã viết được một số tác phẩm. Trong số đó đáng chú ý là bút ký "Tiếng hát trong hang đá" truyện ngắn "Đi nông trường" và một số bài thơ gửi con như "Ánh sao" "Nụ cười của con". Những tác phẩm ấy đều thể hiện một cái nhìn lạc quan thực ẩn sau một con người hồn nhiên đôn hậu. Làm cho người đọc cảm nhận được dư vị ngọt ngào (đôi khi là đắng) và hiểu sâu hơn cuộc sống chiến tranh.

Ngày 8/3/1969 nhà văn-chiến sĩ DTXQ đã ngã xuống trong một trận càn của giặc. Nhà thơ Bùi Minh Quốc (chồng nhà văn liệt sĩ DTXQ) đau đớn thốt lên: "Thôi em nằm lại/Với đất lành Duy Xuyên/Trên mồ em có mùa xuân nở mãi/Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên...". Và nhà thơ biết: "Em ra đi chẳng để lại gì/Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi/Và anh biết khi bất thần trúng đạn/Em đã ra đi với mắt nhìn thanh thản/Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai/Bởi biết mình có mặt ở tương lai" (Bài thơ về hạnh phúc - Bùi Minh Quốc).

Thanh Hải.

More...

Nhớ Trần Dần

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha





Nhớ Trần Dần


Tôi chợt nhớ đến "những chân trời không có người bay"

Là chân trời ghập ghềnh khúc khỉu

Là những lởm chởm

Mới

Thách đố những con mắt lãng xẹt

Kẻ thù của những lối mòn

Của những con đường bằng phẳng

Rộng thênh thang

Của nhà sàn

Lộng gió.

Tôi chợt nhớ đến người đã khóc cho "những chân trời không có người bay"

Xác thân còm cõi

Mấy mươi năm bị nhốt trong chiếc cũi cơ chế

Có khi phải cứa cổ

Phải đấm ngực

Cải tạo

Bị lột mũ áo đuổi ra khỏi Hội Nhà Văn

Nghiến răng

Nằm co bên đống bản thảo

Vẽ lên những câu thơ nhố nhăng

Lạ hóa

Khó hiểu

Dở người

Văn nghệ đã đẩy ông ra khỏi cuộc đời

Nhưng lòng vẫn quyết "nhất định thắng".

Ông đã ra đi. Tôi hỏi:

Con đường thơ sẽ ra sao?

Nấm mồ xanh những cỏ

Lặng im không trả lời

Tôi quay mặt đi nhìn về phía chân trời

Thấy một lối mòn có lắm người qua lại...

Đau...đau

Khóc mãi...


Thanh Hải.

More...

Kí ức mùa đông

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 


c mùa đông


Biết anh có về kịp mùa đông

Khi cơn lạnh đầu đã chớm hồng đôi má

Hàng cây xưa mấy mùa qua yên ả

Như giấc mơ hạnh phúc của chúng mình


Anh có nghe không em gọi giữa mùa đông

Hơi ấm anh từ phương xa gửi lại

Em vẫn mong mình sẽ bên nhau mãi mãi

Như ngày nào anh đã hứa với em


Anh như mây vần vũ khắp trăm miền

Như cánh chim xa nơi cuối trời phiêu bạt

Người ta nói với em: Anh như gió hát

Em thỏa sức vui nghe nhưng không thể giữ riêng em


Mùa đông về em vẫn đứng lặng im

Cuối con phố xưa có hàng bạch dương rụng lá

Nơi anh đã nói yêu em chiều đông qua rất lạ

Chiếc lá vô tình rơi có hình dáng trái tim


Cơn gió cuối cùng đã trút hết mùa đông

Đã mang anh của em đi về phía nào xa ngái

Chiếc áo bông anh mua mấy mùa mưa trở lại

Chẳng ấm nhiều khi thiếu vắng hơi anh


Xuân đến rồi đây thơm mãi búp trên cành

Lòng em chán chường như trái tim người cô phụ

Thèm cái lạnh của mùa đông gió mơn về ấp ủ

Khoác chiếc áo bông lên mình cùng anh ngắm bạch dương rơi.


 

T.H

More...

Suy nghĩ về thơ xưa và nay

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 

TRẦN KIM HOÀNG:

Suy nghĩ về thơ xưa và nay

Nhìn lại con đường thơ Việt Nam đã đi qua chúng tôi không khỏi tự hào và vui sướng vì thơ đã có những mốc danh đáng nhớ được đặt một cách chắc chắn trong lịch sử. Thế nhưng thơ ngày càng có dấu hiệu chùng xuống theo kiểu "đổi thơ - lấy gạo" làm cho những người tâm huyết với thơ phải thất vọng và muốn gác bút. Vừa qua chúng tôi đã có cuộc trao đổi với anh Trần Kim Hoàng (bút danh: Mộng Du) về thơ xưa và nay. Trong khuôn khổ bài viết này tôi xin trích dẫn một số điểm chính trong bài cảm nhận của anh.

 MỘNG DU


Nhà thơ Mộng Du. Ảnh: T.Hải

 Đã có một lịch sử cho mình với một vị thế ngạo nghễ trong tâm hồn con người - Thơ từ ngàn xưa với ngàn sau là âm vang đồng vọng của kiếp người tiếng hát của những trái tim nhạy cảm và tinh tế.

Sức sống bất diệt ấy chính là nhờ vào sức sáng tạo tuyệt vời của những tâm hồn đẹp trong suốt như sương mai nó luôn rạng ngời sắc cầu vồng của cuộc đời lung linh những vui buồn kiếp nhân sinh.

Thơ đã đi với một chiều dài lịch sử của con người những thằng trầm đột giáng hằn lên trên từng con chữ. Từ khi biết khóc mẹ ru cho đến lúc nghe những khúc đồng dao dân ca và khúc nhạc chia tay với vần thơ ai oán xuôi tay về cõi vĩnh hằng cả cuộc đời đằng đẵng những chặng đường đi không bao giờ hết ấy chúng ta đã gắn bó với thơ và có lẽ mỗi một chúng ta đều tiềm ẩn một khả năng cảm thụ và sáng tạo .   

Từ ca dao đến nền thơ trung đại rồi thơ Mới thơ của hai cuộc kháng chiến bao gồm cả chính trị và nghệ thuật. Hành trình thơ Việt Nam hiện đại chưa thể so sánh với các dân tộc khác trên thế giới những nước có nền thi ca phát triển. Tuy nhiên sự du nhập văn hóa phương Tây chắt lọc vốn văn hóa dân tộc pha chút hương mùa cũ của Trung Hoa thơ Mới Việt Nam đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của một nền văn học trì trệ đến đáng thương của những trắc bằng niêm luật đối mà nhiều khi thảm hại đến mức:

"Bất chợt nảy ba vần vè khắm khú
Cũng vỗ đùi gầm rú gọi là thơ"
.

Cuộc cách mạng ấy là quy luật tất yếu cho sự phát triển nội tại của bất kì một vấn đề nào thuộc phạm trù vận hành theo quy luật lịch sử và xã hội. Nhưng bỗng dưng hai cuộc kháng chiến nổ ra thơ lại đi theo một con đường mới: nghệ thuật và chính trị. Lẽ dĩ nhiên không thể phủ nhận vai trò to lớn của thơ đối với nghĩa vụ sống còn của một dân tộc. Nhưng trong cái được thì ta cũng đã mất khá nhiều khi định hướng có tính cực đoan và máy móc theo Liên Xô và Trung Quốc.


Người nghệ sĩ với trách nhiệm quá lớn bởi những định hướng và góc nhìn thiếu thực tế nhiều khi đã tô vẽ một cách quá mức đánh bóng nhân vật nên người đọc cảm thấy sự giả tạo. Nhưng độc giả lúc bấy giờ chưa thể nhìn nhận hết được giá trị một tác phẩm trên bình diện nghệ thuật chân lí. Nhân văn giai phẩm hay những cái gì đại loại như thế là phản động là việt gian lẽ ra thơ nên có những nhánh rẽ như thế thì nền văn thơ cách mạng đã có sự phong phú và chân thực hơn dưới nhiều góc quay của lăng kính nghệ sĩ và tư duy sáng tạo sẽ đập vào điểm giữa của lí tính - tình cảm để thấu suốt hơn một giai đoạn. Không phải cái gì to lớn là vĩ đại và ngược lại không phải manh áo vải sờn không thể là thứ hoàng bào khoác trên những tâm hồn mênh mông. Cái đẹp tồn tại bằng bản chất riêng chứ không thể là thứ tạo ra bằng ba nét vẽ thô sơ của một tay thợ vẽ tập nghề. Nhưng có chăng bức vẽ không có cái giá trị kia lại nghiễm nhiên nằm trong viện trưng bày nghệ thuật lừa dối.


Nam Cao đã nói về quan điểm nghệ thuật của ông thi hào Gớt cũng đã phát biểu chân lí và gần chúng ta nhất là Tsenu Sép nư sép Xki "Cái đẹp chính là cuộc sống". Nhưng rồi mọi thứ cũng yên nghỉ đúng vị trí của nó theo quy luật đào thải âm thanh nịnh hót của một con vẹt cũng không thể sánh với tiếng hót sơn ca nơi róc rách suối chảy bên đồi cỏ hoang. Thơ lại tìm về với cuộc sống thật với những đau thương hằn sâu vào từng sợi thần kinh chiếm hai phần ba bộ não kí ức với "Gió thoảng đưa mùi đạn pháo - Những đêm mưa mái dột lạnh xé vèo" và "Những trang thư cũ cùng tôi xuống mồ". Thơ đối diện với kí ức và độc thoại để trăn trở với từng vần thơ đau buốt mất mát quá lớn trong một xã hội nặng nề guồng quay bao cấp nó không còn cái kiểu:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai
.

Mà nó là mì hột là gạo mốc là vết thương trái gió trở trời là những hạnh phúc tuổi xuân ra đi không bao giờ trở lại. Chống ngoại xâm không phải không có những vần thơ đẹp nhưng nó qua rồi niềm hào sảng để ri rỉ mạch chảy lén trong âm thầm của cô đơn. Xuân Quỳnh sống với khát khao được yêu được trọn vòng tay với hạnh phúc đời mình nhưng chị cũng không thể vượt qua cái ngưỡng "Trời
hỡi làm sao cho khỏi đói".

Rồi thế cũng qua thơ trở về với nhiều khúc hát mới nhiều cách sáng tạo mới nhưng nhìn chung vẫn tủn mủn cuộc sống đã khác không biết từ đâu nhà thơ mọc lên như nấm sau mưa từng tập thơ ném vào lòng cuộc sống mà không biết ai sẽ đọc thật là đau lòng cho thơ cho mảnh giấy qua bao nhiêu công đoạn làm trắng một độc giả vô tình mua về hay được biếu tặng bán cho mấy cô thu lượm rác phế liệu. Có một chút mới nhưng vẫn những đề tài ấy thơ tự đeo gông khi người viết quá dễ dãi. Nhiều nhà thơ hôm nay khi nhận ba đồng nhuận bút được ba giải thưởng ở các tạp chí tên tuổi thế là mặc sức tung hô nhảy cẫng lên như được tái sinh.


Thơ còn bệnh hoạn hơn vì nhà thơ chính là một con bệnh tự đắc đâu biết rằng độc giả hôm nay vốn đã không mấy cảm tình với thơ nhà thơ lại xa độc giả thậm chí có anh bảo "quen thằng cha này ỉa ra thơ nó cũng đăng". Khốn nạn cho thơ tội nghiệp cho thơ đau và khóc cho thơ. Chúng ta đã hành hạ thơ không thương tiếc. Ngậm ngùi nhìn những vần cóc viết cho mình đọc để mà vơi
những nỗi buồn. Tôi thấy mình còn chút danh dự.


Nhà thơ hôm nay có kẻ còn cho rằng xoáy sâu vào Sex là một vấn đề cần phải làm nhưng tôi biết chốn văn thơ "mưa máu gió tanh" nó cũng tranh quyền đoạt vị cũng chiếu trên chiếu dưới Sex quả thật không xa lạ gì nhưng có nên hay chăng xoáy sâu vào nó? Và thiển nghĩ của tôi đây là một đề tài rất câu khách một chiêu kiếm ăn của những nhà thơ chợ giời ăn bẩn mà không nghĩ tới những giới hạn cần thiết của nghệ thuật. Thật là phi nghệ thuật và không biết khi chuyển tải cái bản năng thô kệch kia chúng ta có nghĩ tới chút nhân văn hay là như những câu hát "hát để mà quên".


Đề tài là Sex - Sex muôn năm vì bản năng ai chẳng biết nhưng điều quan trọng là viết thế nào. Cách ăn theo này đến cả sàn diễn kịch cũng đua nhau nở như hoa phun thuốc kích thích vậy. Tại sao thế ? Đa phần chúng ta hôm nay khi thoát khỏi rào cản của cái chúng ta gọi là "ôi dào! có gì nói vậy đâu như các cụ đụng tí hét lên như sắp chết đến nơi như con lợn chọc tiết" nào Mỹ nào Anh ....đổ xô văn hóa góp vào một cái túi mà không biết đâu là sạn đâu là vàng. Chúng ta thích chiêm ngưỡng cái bản năng của mình dưới cái mà hôm nay gọi "nghệ thuật sex".


Ở một tỉnh nọ (xin phép không nói ra) vừa qua mới thành lập câu lạc bộ sáng tác trẻ cá nhân tôi đã tham gia với đúng nghĩa của nó nhưng than ôi khi bước vào chẳng khác gì tham gia vào tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng người biết viết thì ném ra lề để cho "bậc đàn anh trong văn giới" đưa bồ bịch chim nhau. Rồi một cái lề thói kìm hãm "cơ cấu" như một miếng giẻ xóa tan hàng chữ (thuộc về con chữ danh nghĩa - cái để gọi danh) kia trên bảng.


Hình thức và chủ nghĩa hình thức tồn tại trong những thú vui hết sức đáng lên án nhà thơ là người làm đẹp cho đời cho tâm hồn mình nhưng ngược lại họ là những người có nhân cách hết sức bẩn thỉu. Nếu đưa thực tài mà định danh thì chắc rằng ít cây viết trẻ trong "câu lạc bộ" (nói lái thấy cũng hay) có vì một lẽ họ tham gia với một túi tiền do thần gió mang tới và một lí do khác nữa những lần thực tế viết bài là cơ hội cho những "uyên uơng sau cánh gà" diễn kịch với những cách yêu hết sức hiện đại. Vậy thử hỏi: Thơ sẽ về đâu? thế hệ trẻ sẽ viết gì hay ném toạc lên trang giấy những ái ân vụng trộm những bản năng đê hèn?

Ngày xưa Tản Đà mang thơ lên trời bán giấc mộng và khối tình thi sĩ không một vụ lợi cho bản thân. Chúng ta hôm nay chưa nặn ra một vần thơ đã nghĩ ngay về giá trị vật chất của nó thì độc giả sẽ đón nhận ra sao? Bao giờ độc giả lại cho chúng ta một tình yêu như họ đã dành cho nhà thơ bằng một thứ tình yêu rất riêng : tình yêu nghệ thuật. Thử hỏi bao giờ chúng ta hãy làm đẹp cho mình trước khi làm đẹp cho đời. Thơ chúng ta đã chết trong phần đông độc giả đừng in thơ làm một thú chơi mà hãy nghĩ rằng bao giờ có ba người mua một cuốn thơ cho nhà thơ và bao giờ tên tuổi chúng ta sống trong lòng độc giả bằng một lẽ rất tự nhiên. Với thời gian ít ỏi và những nhận xét không tránh khỏi chủ quan phiến diện mong được sự phản hồi từ những người quan tâm tới thơ Việt Nam hôm nay. Trong thời gian tới bài cảm nhận này sẽ được bổ sung đầy đủ hơn.

M.D

More...

Tím mãi màu sim

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 

Tím mãi màu sim

(Kính viếng nhà thơ Hữu Loan)

Ai nhuộm cả chiều hoang màu tím

Để thu về rờn rợn nước sông

Một đời nhân văn mộng đắng

Sim ơi! Tím phớt sắc hồng


Ta nghe người ngừng hơi thở

Ngoài 90 gối mỏi chân chùng

Đau ôi tim ta nhịp lỡ

Suối vàng người có biết không?


Ta mới đôi mươi sức trẻ

Người về đã gọi thành tên

Hai ta chưa lần gặp gỡ

Sao lòng hoang hoải giữa chiều lên?


Thuở ấu thơ hái sim bắt bướm

Ta đã yêu màu tím rất buồn

Để rồi một đời ta cũng tím

Nay khóc người nằm lại giữa cô thôn


Người đã đi nhưng ở khắp đồi kia

Sim vẫn tím giữa muôn chiều nhạt nắng

Biền biệt chiều hoang con gió hờn không lặng

Một ngày về...ta rải đầy sim tím...trên mộ người...trong hương khói...người ơi!


Thanh Hải

More...

Người nhuộm tím thi đàn bằng màu hoa Sim

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha


Bài đã được xuất bản.: 21/03/2010 06:00 GMT+7

Khi xe của chúng tôi đi qua một làng quê người ngồi bên cạnh tôi thì thầm: "Hình như nhà thơ Hữu Loan kìa". Theo tay anh chỉ tôi thấy một người đàn ông trên 60 tuổi đẩy một chiếc xe thồ đầy đá. Chiếc U-oát chạy nhanh quá tôi không nhìn rõ mặt người đẩy xe nhưng thấy dáng ông đi tự tin và vững chãi...

Nhìn thấy Nhà thơ Hữu Loan sau niềm vui gặp gỡ tôi bỗng lo lắng mơ hồ. Đỗ Phủ đã nói "người thọ bảy mươi xưa nay hiếm" nay ông đã chín mươi tuổi có dư liệu còn sống được bao lâu nữa? Dường như đọc được suy nghĩ của tôi ông mỉm cười và nói: "Tôi vẫn còn uống được rượu và dắt cháu đi dạo; khi rỗi rãi còn tìm câu chữ để đối đáp lại bà Hồ Xuân Hương"

Người tôi mong gặp từ thủa học trò

Khi học lớp chuyên văn của tỉnh Nghệ An tôi chứng kiến cánh học trò chuyền tay nhau chép bài thơ Màu tím hoa sim và có cảm xúc rất lạ. Sau đó trong những lần đi rừng hái củi nghe mấy người bạn khe khẽ hát: "Ôi những đồi hoa sim những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt..." tôi xúc động rất mạnh. Cái tên Hữu Loan găm vào tôi từ ngày đó.

 

Nhà thơ Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan sinh ngày 02/4/ 1916 tại xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá. Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1936 đã từng giữ chức Phó Chủ tịchUỷ ban khởi nghĩa Nga Sơn Uỷ viên Văn hoá trong Uỷ ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá. Trong kháng chiến chống Pháp ông là chiến sỹ một đơn vị ở Liên khu 4 chủ bút báo "Chiến sỹ". Sau năm 1954 ông làm ở báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam . Sau đó ông trở về quê làm ăn sinh sống và nuôi dạy con cái. Nhà thơ đã ra đi ở tuổi 95 nhưng thơ của ông thì còn lại mãi.

Ngoài chuyện bài thơ hay ra người ta còn kể nhiều chuyện khá ly kỳ về Hữu Loan khiến tôi tò mò mong ước được gặp và trò chuyện với ông càng ngày càng lớn. Nhưng là một học trò xứ Nghệ gặp ông vào những năm 70 của thế kỷ trước quả là không dễ.

Không gặp được ông tôi bỏ công sưu tầm và nghiên cứu thơ ông. Công sức bỏ ra khá nhiều nhưng ngoài Màu tím hoa sim ra tôi cũng chỉ biết thêm được Đèo cả.

Thời gian cứ thế trôi tôi tốt nghiệp đại học rồi đi làm báo. Công việc và chuyện "cơm áo gạo tiền" cuốn đi mải miết. Bạn bè cùng học cùng uống rượu thành nhà văn nhà thơ; họ in sách tặng tôi xếp đầy cả tủ. Bản thân tôi cũng bỏ tiền mua những tập không được tặng nhưng tôi tìm mãi vẫn không thấy tập thơ nào của Hữu Loan. Tôi vẫn khắc khoải mong ngóng một điều gì đấy.

 

Nhà thơ Hữu Loan: Ảnh ST

... Vào những năm 80 của thế kỷ trước trong một lần đi công tác tại Thanh Hoá khi xe của chúng tôi đi qua một làng quê người ngồi bên cạnh tôi thì thầm: "Hình như nhà thơ Hữu Loan kìa". Theo tay anh chỉ tôi thấy một người đàn ông trên 60 tuổi đẩy một chiếc xe thồ đầy đá. Chiếc U-oát chạy nhanh quá tôi không nhìn rõ mặt người đẩy xe nhưng thấy dáng ông đi tự tin và vững chãi. Cái tên - Hữu Loan - "làm tổ" trong lòng người yêu thơ hơn nửa thế kỷ nay. Tôi thầm hứa với mình là sẽ tìm cách gặp được tác giả Màu tím hoa sim.

Mãi đến gần đây tôi mới có dịp thực hiện mơ ước từ ngày bé của mình. Vào một ngày đẹp trời có người rủ tôi đi thăm nhà thơ Hữu Loan. Tôi mừng húm vì nghĩ rằng người này có mối quan hệ thân thiết với nhà thơ nổi tiếng. Nhưng hoá ra không phải vậy. Anh cũng chỉ biết nhà thơ Hữu Loan quê ở thôn Vân Hoàn xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá. Dẫu sao thì cũng có địa chỉ rồi lên đường thôi.

Nếu rất muốn cứ tìm là gặp

Cách thành phố Thanh Hoá khoảng 26 km trên quốc lộ 1A (hướng Hà Nội - Vinh) có biển chỉ dẫn "Nga Sơn" đi về phía biển. Theo con đường này đi được chừng 2 km chúng tôi hỏi 2 cô gái đi xe máy cùng chiều. Thật may 2 cô này quê ở Nga Lĩnh và biết nhà của thi sĩ Hữu Loan. Hai cô tình nguyện dẫn đường cho chúng tôi. Trước khi về nhà mình các cô nói: "Đi theo đường này khoảng vài trăm mét thấy cái nhà 2 tầng ông Hữu Loan ở đó."

Tuy đã tìm được gần đến nơi nhưng trong tôi cảm xúc lẫn lộn. Tôi chưa tưởng tượng được nhà thơ Hữu Loan hơn 90 tuổi ở trong một ngôi nhà tầng sang trọng lên xuống cầu thang như thế nào. Và nữa ông có thể không có nhà. Nếu ở nhà ông có thể không tiếp chúng tôi vì trước khi đến đây chúng tôi chẳng liên hệ chẳng có thông tin gì cả ngoại trừ cái địa chỉ ghi ngệch ngoặc trên tờ lịch cũ.

Nhưng mọi sự không như tôi tưởng. Cái nhà 2 tầng hoá ra không phải của gia đình Hữu Loan mà chỉ là một cái nhà nổi bật ở gần đó. Nhà thơ Hữu Loan ở trong một ngôi nhà cấp 4 chật chội cũ kỹ; bù lại có mảnh vườn khá rộng cây cối xanh tốt và một ao cá nhỏ xinh.

 

Cho đến lúc này người ta vẫn chưa biết nhà thơ Hữu Loan đã viết tất cả bao nhiêu bài thơ. Nhà thơ nhà nghiên cứu Vũ Quần Phương thì khẳng định: Hữu Loan viết tất cả 24 bài. Một số nhà nghiên cứu khác nói ông viết được khoảng 40 bài. Một người con trai của ông đang tìm tòi sưu tập bản thảo viết tay tất cả những bài thơ của ông. Anh chưa chính thức công bố vì chưa hoàn chỉnh nhưng theo anh toàn bộ sáng tác của bố anh không quá 60 bài thơ.

Tôi hồi hộp bước vào và thấy một ông già tóc bạc trắng. Đấy là nhà thơ Hữu Loan; ngồi cạnh một phụ nữ đã cao tuổi nhưng trông vẫn khoẻ mạnh là vợ nhà thơ. Thấy chúng tôi vào vợ chồng nhà thơ không ngạc nhiên không tỏ ra vui mừng đon đả nhưng thân mật. Ông bà không hỏi chúng tôi là ai đến đây làm gì chỉ mời nước và quay quạt về hướng chúng tôi. Có lẽ những cuộc viếng thăm của các nhà văn nhà báo hay đơn giản chỉ là của những người yêu thơ đã trở nên quen thuộc với ông bà.

"Màu tím hoa sim" qua lời "chính chủ"

Cố nén xúc động tôi chỉ ngồi im nghe mà hầu như không dám hỏi gì cũng không ghi chép nốt. Nhưng những gì Nhà thơ Hữu Loan nói lại hiện rõ trong tôi.

... Chàng gia sư tài hoa và cô học trò xinh đẹp đã cảm mến nhau ngay từ khi chàng đặt chân đến nhà nàng. Chẳng thế mà nàng tự tay giặt là quần áo cho chàng mặc dù trong gia đình có hàng chục người được thuê để lo việc nhà. Dù đã thầm yêu nàng tha thiết nhưng vì "không môn đăng hộ đối" nên chẳng dám ngỏ lời. Nhưng người quyết liệt lại là nàng. Nàng chủ động bắt chuyện với chàng đưa chàng đi dạo ở những dải đồi nở đầy hoa sim tím. Rồi nữa áo nàng mặc tím màu hoa sim.

Trong những ngày chàng lãnh đạo khởi nghĩa ở địa phương thì nàng cũng tham gia công tác quần chúng. Khi chàng làm việc ở Uỷ ban lâm thời tỉnh Thanh Hoá thì nàng là một trong những người tích cực vận động nhà giàu tham gia hưởng ứng "Tuần lễ vàng". Cái không khí phơi phới lạc quan của những đầu cách mạng thành công đã khiến cho tình yêu của họ vốn đã lãng mạn càng thêm lãng mạn.

 

Nhà thơ Hữu Loan cùng người vợ thứ hai Ảnh: Hồ Bất Khuất

Trước một tình yêu chân thành mãnh liệt tinh tế và quả cảm của người con gái đẹp; thông minh đa cảm tài hoa như Hữu Loan không thể không tiếp nhận. Đây là hạnh phúc mà không phải ai cũng có được: Yêu và được yêu rồi chính bố mẹ cô đứng ra làm đám cưới.

Hữu Loan cưới vợ trong một lần về phép ngắn ngủi rồi lại ra đi mải miết theo đoàn quân trong cuộc trường chinh chống Pháp. Nhưng cuộc đời thật khó lường "không chết người trai khói lửa mà chết người con gái hậu phương". Người vợ trẻ đã mất khi mới 17 tuổi số ngày sống với chồng chỉ tính trên đầu ngón tay.

Nhận được tin dữ Hữu Loan từ đơn vị trở về thấy mẹ ngồi bên nấm mồ bình hoa ngày cưới đã thành bình hương. Trong tim Hữu Loan - người lính người tình người chồng người con dâng lên những đợt sóng trào. Tình cảm thiết tha mãnh liệt và nỗi đau sâu thẳm đã sản sinh ra bài thơ "Màu tím hoa sim". Tất cả những tình tiết sự kiện con người trong bài thơ đều là thật. Có lẽ đây chính là nguyên nhân để bài thơ trở nên bất tử.

Cả cuộc đời dài gần trăm năm của mình Hữu Loan làm thơ không nhiều không in tập lớn tập bé; nhưng chỉ cần với một "Màu tím hoa sim" ông đã nhuộm tím thi đàn Việt Nam. Cái màu tím bình dị của một loài cây mọc lúp xúp ở đồi núi Việt Nam đã trở thành một trong những biểu tượng đẹp của thơ ca.

Chỉ là chuyện đời thường mộc mạc

 

Gia đình ông Lê Đỗ Kỳ là một gia đình trí thức cách mạng. Ông là kỹ sư canh nông đã từng giữ chức Tổng Thanh tra canh nông Đông Dương. Vợ là con một nhà khoa bảng đất Thanh Hoá. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 ông Kỳ là đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên.Vợ ông trở thành cán bộ của Hội Phụ nữ. Ba người con trai đầu của ông đi bộ đội. Người con cả là Lê Đỗ Khôi hy sinh trên đồi Him Lam ngay trước giờ chiến thắng Điện Biên. Người con thứ hai là Lê Đỗ Nguyên chính là Trung tướng Phạm Hồng Cư. Người con thứ ba Lê Đỗ An chính là Nguyễn Tiên Phong nguyên bí thư TW Đoàn nguyên Phó Ban Dân vận TW. Người con thứ tư là Lê Đỗ Thị Ninh vợ của nhà thơ Hữu Loan nhân vật chính của bài thơ "Màu tím hoa sim".

Người ta đã làm khổ nhà thơ Hữu Loan đồng thời cũng đã dành cho ông những lời lẽ tốt đẹp nhất. Tôi đến nhà ông chỉ ngồi ngắm nhìn ông nghe ông kể chuyện nghe ông đọc thơ. Ở tuổi ngoài chín mươi vẫn với ánh mắt cười rất hóm nhà thơ Hữu Loan chậm rãi kể cho chúng tôi nghe về cuộc đời mình.

... Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo nhưng rất sùng bái chuyện học hành. Ngày bé tôi tự học là chính. Năm 1938 tôi ra Hà Nội thi gặp gỡ Nguyễn Đình Thi từ dạo đó. Trở về Thanh Hoá tôi làm gia sư vừa để kiếm sống vừa để học thêm vừa có điều kiện tham gia cách mạng.

Khi tôi đến dạy học ở nhà một người quyền quý cô con gái của gia chủ nhìn tôi bằng ánh mắt rất lạ. Tôi bị ánh mắt và gương mặt đẹp thánh thiện ám ảnh nhưng không dám nghĩ tới chuyện xa hơn. Nhưng thật may mắn tôi là chàng trai nghèo nhưng lại được cô học trò xinh đẹp là con của một người sang trọng và giàu có yêu. Chúng tôi đã được yêu nhau và hạnh phúc tuy rất ngắn ngủi. Sau khi Lê Đỗ Thị Ninh chết tôi nghĩ là mình chẳng bao giờ lấy vợ nữa ấy thế mà...

 

Ngôi nhà của gia đình nhà thơ Hữu Loan Ảnh: Hồ Bất Khuất

Ông dừng lời và đưa mắt tình tứ nhìn vợ là bà Phạm Thị Nhu ngồi bên cạnh. Đây là người phụ nữ gắn bó với ông suốt cả cuộc đời sinh cho ông 10 người con cùng ông chia sẻ (ngọt bùi thì ít đắng cay thì nhiều nhưng niềm vui rất là sâu lắng). Bà Nhu nhìn nhà thơ Hữu Loan âu yếm rồi nhẹ nhàng kể:

... Tôi yêu ông này vì ngày ấy hay ra nghe trộm ông giảng Truyện Kiều cho học sinh. Ông ấy giảng hay lắm.Trọng tài rồi mê người lúc nào không rõ nữa. Dù ông ấy hơn tôi những 20 tuổi nhưng tôi vẫn mê ông và khiến ông bỏ ý định không lấy vợ nữa. Ông ấy lại còn viết bài thơ "Hoa Lúa" nịnh tôi nữa chứ.

Nhà thơ Hữu Loan  dường như trở lại thời tráng niên nhìn vào xa xăm rồi tiếp lời vợ:  "Màu tím hoa sim" là khóc người vợ đã chết còn "Hoa Lúa" là bài thơ viết cho bà đang ngồi đây!

"Ông ấy nhớ toàn bộ bài này đấy bảo ông ấy đọc cho mà nghe!" Vợ thi sĩ thì thầm nhưng cũng đủ cho tất cả mọi người trong căn nhà nghe rõ.

Bằng một chất giọng khàn ấm nhà thơ Hữu Loan đọc bài "Hoa Lúa". Bài thơ khá dài nhưng ông đọc thong thả khi thì nhìn ra khoảng sân có giàn mướt đơm hoa kết trái; khi thì nhìn về phía người đàn bà đã gắn bó cùng ông hơn nửa thế kỷ. Có hạnh phúc nào hơn khi người mình say mê trở thành chồng mình làm thơ tình tặng mình thỉnh thoảng lại dồn hết tâm trí vào đó và tha thiết đọc lên.

Tôi thấy cái hạnh phúc bình dị này của vợ chồng nhà thơ là vô giá. Có lẽ chính điều này khiến ông sống thanh thản ở một làng quê nghèo và nhiều ân tình?

"Thơ tôi làm ra không phải để bán"

 

Tác giả Hồ Bất Khuất cùng nhà thơ Hữu Loan
Ảnh: tác giả cung cấp

Thật khó mà tưởng tượng hết những khó khăn mà Hữu Loan vượt qua để duy trì cái gia đình có 12 miệng ăn giữa vùng quê nghèo khó trong những năm chiến tranh ác liệt của thế kỷ trước. Hơn nữa không chỉ phải đối phó với những khó khăn về vật chất mà còn phải đối đầu với nhiều sự rắc rối khác. Nhiều người trong bộ máy chính quyền địa phương lúc ấy không hiểu ông còn gây thêm cho ông những khó khăn như tịch thu xe đạp của ông với lý do ...phụ tùng không đồng bộ; xúi giục những người khai thác đá không bán cho ông...

Bằng nghị lực và sự dẻo dai hiếm có cả về tinh thần lẫn thể chất Hữu Loan đã vượt qua tất cả mọi thử thách tai ương. Ông đã sống làm việc bền bỉ trung thực ngay thẳng để vợ con yên bình vững tâm mà sống mà lớn. Người ta không bán đá cho ông thì tự tay ông khai thác và chở đi bán. Một mình ông gần như đã san bằng một ngọn núi. Ông cũng đã trở thành "chuyên gia" mò cua bắt ốc ở nơi những cây cói mọc lên để thành chiếu Nga Sơn nổi tiếng. Có lẽ trước khi khăn gói rời Hà Nội ông đã lường trước mọi khó khăn nên không điều gì có thể làm ông gục ngã.

Nhưng theo ông tình yêu và trách nhiệm với vợ con mới là nguồn sức mạnh lớn lao giúp ông đứng vững giữa cuộc đời. Ông bảo: "Tôi là người ương bướng hay cãi. Ở lại làm trong cơ quan đoàn thể khó mà dung hoà với mọi người được. Nếu vậy thì làm sao nuôi nổi đàn con? Nghĩ vậy tôi thấy về với vợ con là tốt nhất."

10 người con của ông đã trưởng thành có người là giáo viên có người là kiến trúc sư có người là nông dân... Bây giờ mọi thứ qua rồi nên ông nhớ lại mọi thứ nhẹ nhàng thanh thản.

Cách đây mấy năm Công ty Vitek đặt vấn đề xin được chuyển nhượng tác quyền bài thơ "Màu tím hoa sim" 100 triệu đồng. Lúc đầu ông không chịu với lý do "thơ tôi làm ra không phải để bán" nhưng khi thấy có những người con vẫn còn khó khăn về vật chất ông đã đồng ý. Sau khi nộp thuế 10 triệu đồng ông mang 60 triệu chia cho các con chỉ giữ lại 30 triệu cho tuổi già.

Hai vợ chồng nhà thơ Hữu Loan sống trong ngôi nhà nhỏ bé ấm cúng xung quanh là vườn cây xanh tốt. Không xe hơi nhà lầu không hội họp phê bình kiểm điểm không đọc báo cáo... Hàng ngày ông trò chuyện với vợ đọc thơ và chơi với các cháu. Người nhuộm tím thi đàn Việt Nam sống bình dị giữa làng quê của mình với đôi mắt cười rất hóm.

Tôi mong có dịp trở lại và ngồi uống rượu với ông nhưng hôm nay ông đã ra đi vĩnh viễn. Tôi chẳng biết làm gì hơn ngoài việc viết đôi dòng về ông và mơ về màu tím mới sẽ làm lóng lánh làng thơ Việt Nam.

 

Biết tin nhà thơ Hữu Loan ra đi một độc giả Tuần Việt Nam gửi bài thơ tiễn biệt ông. Chúng tôi xin giới thiệu cùng độc giả:

Vĩnh biệt nhà thơ Hữu Loan
Tác giả: Khương Duy

Cách trở phương trời không về thắp được nén hương
Cho người mới lên đường bỏ lại màu sim tím
Dẫu sinh tử lẽ đời rồi phải đến
Vẫn nghe buồn len lén cõi tâm tư

Kẻ đôi mươi người chín chục tuổi dư
Duyên nợ gì ư? Chỉ một câu thơ cũ
Câu thơ có chàng trai nghèo trong quân ngũ
Có người vợ hiền chết vì khói lửa chiến tranh

Có mái đầu ngan ngát tóc xanh
Có khói hương vờn bên cành sim tím

Những vần thơ đã nằm trong ba lô người lính
Đã chắp lời cho tiếng hát vút cao
Đã đem hi vọng về từ tận đáy nỗi đau
Đã thắp mãi một tình yêu bất diệt

Vần thơ ấy cũng làm nên cuộc đời oan nghiệt
Để người thơ phải đoạn tuyệt với thơ
Để dở dang thời trai trẻ mộng mơ
Để xác xơ chiếc xe gầy sau bao ngày nắng mưa thồ đá

Thôi đời người chỉ là chiếc lá
Đắng cay hay ngọt bùi một ngày gió cũng thổi rơi
Chín mươi lăm tuổi đời đã đến lúc nghỉ ngơi
Đừng buồn nữa những người yêu sim tím

Đêm nay khi cơn gió đầu hè đã chớm
Người đang sang sảng đọc Đường thi bên Phùng Quán Trần Dần...
Chén rượu nồng của những bậc thi nhân
Mặc kệ bao nhọ nhem nơi hồng trần dương thế

Rồi gió sớm thu về
Cỏ sẽ vàng chân mộ chí...

Hà Nội 19/3/2010

More...

Hữu Loan - Người đi bộ ngược chiều

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha


Hữu Loan - Người đi bộ ngược chiều



Tin buồn mà một người bạn xứ Thanh nhắn vào máy di động của tôi ngày 18/3: "nhà thơ Hữu Loan đã ra đi" khiến lòng tôi xao xác. Vậy là thêm một nhà thơ đàn anh đầy hoạn nạn đã chuyển cõi.

Vợ anh mất sớm...

Chỉ ít lâu sau ngày Hải Phòng và miền Bắc hoàn toàn giải phóng (13/5/1955) tôi đã nghe chị em mình ngâm nga: "Nàng có ba người anh đi bộ đội/ Những em nàng - có người chưa biết nói/ Khi tóc nàng xanh xanh/ Tôi người Vệ quốc quân/ Xa gia đình/ Yêu nàng như tình yêu em gái/ Ngày hợp hôn nàng không may áo cưới..."

Chị tôi đã bật khóc khi đọc: "Nhưng không chết người trai khói lửa/ Mà chết người em nhỏ hậu phương/ Tôi về không gặp nàng/ Má tôi ngồi bên nàng đầy bóng tối/ Chiếc bình hoa ngày cưới/ Thành bình hương tàn lạnh vây quanh". Chị nói đấy là thơ khóc vợ của nhà thơ Hữu Loan.

Cái tên Hữu Loan đã ám ảnh tôi từ đó. Sang mùa xuân sau tôi lại nghe bài hát Hoa lúa của Trần Chung phỏng thơ Hữu Loan hay đến xao xuyến. Tôi vừa phục nhạc sĩ vừa phục nhà thơ. Thế rồi thời gian bẵng đi rồi chiến tranh...

 

Nhà thơ Hữu Loan Ảnh: blog teolangthang
Màu tím hoa sim qua giai điệu của Phạm Duy trở thành Áo anh sứt chỉ đường tà. Không hiểu sao nhiều người lính cứ thầm nghêu ngao câu nhạc "Áo anh sứt chỉ đường tà Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu..."

Hóa ra "màu tím hoa sim" là cảnh ngộ của nhiều người lính trên trái đất này trong chiến tranh. Có một bài dân ca Grudia mà nữ liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã từng rất thích cũng mang tứ như thế. Sau Màu tím hoa sim ta còn đọc Núi đôi của Vũ Cao Quê hương của Giang Nam đều có cái tứ ấy. Vậy là bi kịch này sẽ còn mãi nếu còn chiến tranh.

Ở Việt Nam Hữu Loan là người phát ngôn bi kịch ấy bằng thơ đầu tiên. Một bài thơ xuất thần được trả giá bằng cái chết đau thương của chính vợ nhà thơ - bà Lê Đỗ Thị Ninh. Và với việc phát ngôn bi kịch này ngược với cách tuyên truyền tụng ca ngày đó Hữu Loan đã chính thức là "người đi bộ ngược chiều" trong nhiều năm tháng của lịch sử văn học Việt Nam.

Người đi bộ ngược chiều

Thống nhất đất nước tôi trở về Hà Nội. Qua tiếp xúc với Đặng Đình Hưng Phùng Quán Hoàng Cầm Lê Đạt Trần Dần... và nhất là Văn Cao tôi mới biết được khí phách của "người đi bộ ngược chiều" này. Văn Cao kể rằng sau vụ "Nhân văn Giai phẩm" Hữu Loan có quyết định giống như Nguyên Hồng là về quê. Nguyên Hồng về ấp Cầu Đen là để viết tiếp những dự định tiểu thuyết của mình. Còn Hữu Loan thì đoạn tuyệt hẳn với nghề viết. Ông sắm xe đạp đi thồ đá ở Nga Sơn (Thanh Hoá quê ông).

Đêm trước khi về quê Hữu Loan và Văn Cao đã đi bên nhau trắng đêm quanh hồ Thuyền Quang. Bao nhiêu nỗi niềm bao nhiêu tâm sự họ đã trút sang nhau cạn kiệt đến thanh thản. Đêm ấy đã gợi cho Văn Cao viết bài thơ "Cạn": "Những tiếng gà lên/ Rụng hết những ngôi sao cuối/ Tiếng kêu ở trong tôi/ Có xót xa có cả vui mừng/ Tiếng kêu của một khúc thép đỏ/ Trong chậu nước..."

 

 

Nhà thơ Hữu Loan và nhạc sĩ Phạm Duy Ảnh: Nhipcauthegioionline

Mùa thu 1987 là mùa thu Hữu Loan ra Hà Nội. Chính mùa thu ấy tôi mới thực kiến diện "người đi bộ ngược chiều". Hữu Loan vui mừng với thời đổi mới bằng việc mang ra một tập thơ mang tên "Màu tím hoa sim" với những bài thơ lừng danh một thời như "Đèo cả" "Hoa lúa" "Những làng ta đi qua" "Nguyễn Sơn" "Quách Xuân Kỳ"... Những cuộc rượu đầm đìa nước mắt của cố nhân gặp cố nhân. Những ngày ấy khi ông ở nhà tôi khi ông ở nhà anh Chu Thành (tức Tú Sót). Anh em hàn huyên bao chuyện không dứt. Hữu Loan cũng là một "tiên tửu". Càng say ông càng vuốt những sợi râu cước oai phong và đọc vang Đường thi. Ông có lối dịch thơ Đường cũng khác người. Ông ngông đến mức không biết giữa ông với tiên sinh Tản Đà ai hơn ai kém. Chất chứa trong lòng bao nhiêu ẩn ức vậy mà tiếng cười Hữu Loan vẫn trong vang sảng khoái. Tiếng cười của người thồ đá.

Có một đêm uống rượu khá say ở nhà ông Chu Thành tôi dìu ông ra vỉa hè đường Bà Triệu và sau đó đi bộ về Hàng Bông. Vừa đi tôi vừa ngẫu hứng từng câu thơ trong cuộc "đi bộ ngược chiều" đó: Khoác vai nhau đi/ngược đường Bà Triệu/Người ba mươi năm trước/người hôm nay/Không khoảng cách/Anh thầm thì sợ lạc/như từng lạc/Khiến tôi đang say/chợt tỉnh/rồi lại say/Nếu là ôtô/Là môtô/Là xe đạp/sẽ bị tuýt còi ngay/Nhưng ngược chiều là hai người đi bộ/Những bước chân chẳng nói được gì về tốc độ/Trong đầu họ những tứ thơ vụt bay/Hai người/hai thế hệ/cách nhau ba mươi năm/vẫn đang cùng sóng đôi/Đi ngược chiều đường Bà TriệuTrong đêm ai dõi nhìn có hiểu/Họ sẽ cùng đi tới sáng bằng lối này/Ngỡ ông say không nghe vậy mà hết bài thơ ông nắm chặt tay tôi. Không nói/ Lại bước tiếp.

Cứ thế ông đã là "người đi bộ ngược chiều" cho đến hôm nay khi bước vào tuổi 95. Giống như mẹ tôi khi mất ông đã sống thọ theo cách nói của hôm nay là "đá bù giờ sau phút" đã ngừng hành trình của "người đi bộ ngược chiều" tạc lại đời một khí phách Hữu Loan.


Màu tím hoa sim
Hữu Loan

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu...

Màu tím hoa sim tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...

(1949 khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)


More...

Đối ẩm cùng Nguyễn Bính

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 

Đối ẩm cùng Nguyễn Bính

Cũng là một nhà thơ lại được bạn bè "khen" thơ mình "quê" như thơ Nguyễn Bính. Có lẽ thế mà tôi tìm hiểu về ông nhiều hơn. Đặc biệt tôi rất thích nghe những giai thoại về Nguyễn Bính vì ở đó tôi tìm được những lời ứng đối những câu thơ "hay hơn bình thường" của ông.

Hội ngộ tri âm


Vào những năm cuối thập kỉ 30 phong trào Thơ mới xuất hiện với nhiều tên tuổi như: Xuân Diệu Chế Lan Viên...họ bắt đầu làm thơ khi còn rất trẻ và sống ở tỉnh lẻ. Nguyễn Bính cũng thuộc một trong số đó. Các nhà thơ trẻ trong phong trào Thơ mới đều có những sự đột phá trong phong cách thơ nói chung cụ thể hơn là trong tứ tư tưởng và nhịp điệu có nhiều ảnh hưởng từ thơ Tây phương.

Tuy ông sống cách xa Hà Nội nhưng vẫn thường được các chủ báo ở đây mời ông vẽ minh họa cho. Nhờ sự giới thiệu của Nguyệt Hồ mà Nguyễn Bính được "tiểu thuyết thứ năm" do ông Lê Tràng Kiều chủ bút thời đó đăng cho bài "Cô hái mơ". Đây cũng là bài thơ được đăng báo đầu tiên của ông.


Hồi đó tại Nam Định có một nhóm Văn nghệ sĩ thường hay chơi với nhau như: Nguyễn Bính Nguyệt Hồ (ngay từ khi tập tành viết lách Nguyệt Hồ và Nguyễn Bính đã chơi rất thân với nhau) Vũ Hoàng Chương Phong Giao Trúc Đường...Họ thường xuyên gặp nhau để giao lưu Văn nghệ. Ngoài những bạn văn cùng tỉnh họ cũng mở ra với các anh em Văn nghệ sĩ ở nhiều tỉnh khác nữa trong đó phải kể đến: Tô Hoài Trần Huyền Trân Anh Thơ Thâm Tâm Ngân Giang Trương Tửu...


Họ đến với nhau bởi niềm say mê thơ ca mến mộ tài năng của nhau nên không khí những lần gặp đều rất hồ hởi và ấm cúng. Mặc dù đường sá xa xôi xe cộ hiếm hoi nhưng họ vẫn không quản ngại mà tìm đến nhau thường xuyên. Họa sĩ Nguyệt Hồ hoài niệm: "họ đến với nhau để ứng đối thơ ca mến nhau từ cái tài của nhau nên tình cảm của họ bền chặt lắm".

 Bên những giai thoại

Có lần nhà thơ Trúc khê mời một nhóm bạn qua nhà mình chơi trong đó có Nguyễn Bính Ngân Giang Trần Huyền Trân. Họ ngồi nhâm nhi ngắm trong. Cao hứng nhà thơ Trúc Khê mới ra một đề tài "Đêm hội Ngô Sơn" (Ngô Sơn là tên địa danh nơi nhà của nhà thơ Trúc Khê ở) để cho các bạn văn cùng họa. Trúc Khê đọc:


Non Ngô dưới ánh trăng rằm
Duyên may hội ngộ tri âm buổi này


Trần Huyền Trân liền nối theo:

Rượu nồng chưa nhấp đã say
Nhưng tình đã thấy rót đầy lòng nhau
.

Nghe có vẻ cũng vần điệu lại hợp với cảnh nên Nguyễn Bính đọc tiếp:


Chắc rằng gặp mãi nhau đâu
Duyên bèo nước có bền lâu bao giờ?


Nguyễn Bính xướng Ngân Giang cũng bè bè chạy theo:

Tiệc này dưới ánh trắng mờ
Tiệc sau e bóng người thơ lạc loài


Và cứ thế đến khi nối lại thành cả một bài thơ dài mặc dù mỗi người có phong cách khác nhau nhưng gom lại trong đó đã có: rượu thơ bạn ánh trăng...xem ra cũng được rồi. Họ cứ ứng đối cho đến thâu đêm sáng mai đi làm thì ai cũng mệt lã nhưng họ vẫn vui và tìm đến với nhau luôn.

Có bận Nguyễn Bính thức khuya sáng tác nên thiếu ngủ sáng mai đi làm thì mắt mũi cứ đờ đẫn ra thấy vậy Nguyệt  Hồ liền đọc bài thơ vần chơi chữ để chọc ghẹo Nguyễn Bính bài thơ có bốn câu:

Văn nghệ hay là văn gừng
Sao ông lửng khửng lừng khừng vậy ôi?
Hay là tối đã tác rồi!
Sáng không tác được mệt nhoài tứ chi?


Thấy bộ dạng ngẩn ngơ tưởng rằng Nguyễn Bính bó tay chịu thua ai dè cái sức thơ dữ dội quá nên "xuất khẩu" đánh lại ngay với bốn câu y chóc nhưng đanh gấp đôi: 

Sáng tác hay là tối tác đây?
Tối không tác đủ tác ban ngày
Xem ra sáng tác không bằng tối
Tối tác ông ơi sướng gấp hai!


Nghe thơ xong bạn bè ai cũng tấm tắc khen cái tài ứng đối của Nguyễn Bính. Nhưng đôi khi vì cái tài đó cộng thêm cái tính "tọc mạch" của ông làm cho người ta "ghét mặt" dẫn đến mất bạn mất bè.

Nói như vậy vì đã có mẫu chuyện sau đây. Đầu năm 1954 Nguyễn Bính từ miền Nam tập kết ra Bắc ông tìm đến thăm một nhà thơ nữ trẻ (nghe kế rằng: nhà thơ nữ này đã "mê" một ông lớn tuổi gấp đôi cô). Nữ thi sĩ đón tiếp ông ân cần lại còn bưng đĩa cam ra mời ông ăn. Ăn cam xong rồi ở chơi một lúc Nguyễn Bính xin phép ra về ông vừa về thì nữ Thi sĩ thấy dưới đĩa cam có một tờ giấy kèm theo mấy dòng chữ cô vội lấy lên đọc:

Cô cầm cam cụ cầm cô cô cứ cỳ cèo co céo cụ
Cụ càng cao cô càng cáu cô càng cay cú cái cò con!


Đọc thơ xong cô gái giận tím mặt và nhất quyết "cấm cửa" Nguyễn Bính.


Nguyễn Bính là một người rất giàu tình cảm dễ yêu nhưng ông cũng hay thất tình. Những lúc ấy ông thường dồn tất cả nổi niềm vào thơ. Nghe kể có thời ông "mê" một nữ sĩ nào đó ở Tao đàn sông Thương nên hay chèo kéo Vũ Hoàng Chương nhảy tàu hỏa cùng mình lên Bắc Giang thăm cô gái. Có bận ông lên với hy vọng mọi sự sẽ tốt đẹp nhưng không được như ý muốn. Trên đường về thấy ông buồn bã nên Vũ Hoàng Chương liền hỏi làm vui bạn: "Đợt này về chắc có thơ hay anh nhỉ?" Vũ Hoàng Chương vừa dứt lời ông liền đọc ngay bốn câu thơ đầy tâm trạng:

Sông Thương nước chảy đôi dòng
Bao giờ bên đục bên trong hài hòa
Ngậm ngùi một bước một xa
Đến đây là... đến đây là... là thôi!


Cả bốn câu thơ đặc biệt là câu thơ cuối chất chứa nhiều nỗi niềm. Việc kéo quảng giữa các chữ của câu thơ cuối giống y như tình cảm của ông lúc này vậy: Một bước một xa nhau biết xa nhưng lòng không muốn xa không muốn nhưng phải xa vì xa là mất mãi mãi.

Thanh Hải.

More...

Chết vì tiền

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha




Có một lúc nào đó trong cuộc đời bạn bổng dưng thấy "chán sống": Người yêu bỏ bạn mà đi mớ văn chương chỉ là đống giấy lộn rồi cơm áo gạo tiền...Không đùa với khách thơ bạn làm bài thơ cuối để vĩnh biệt. Đúng lúc đó nàng tiên đã đến và đưa...bạn đi!









Thanh Hải (Sưu tầm).

More...