Ca sĩ thời “ê gù”!

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Sáng nay nhận được link của một người bạn thân gửi cho tôi. Hồi hộp mở ra xem thấy cái “tít” (title) cũng gợi trí tò mò của một anh nhà báo khéo dùng để câu khách “Ếch cứ muốn to bằng bò”. Dù bận nhưng cũng cố gắng “nhai” hết bài viết này. Nhai xong thấy lòng cứ bứt rứt như “đĩa cắn”. Không chịu được bèn đặt bút viết mấy dòng này. Xin bạn đọc lưu ý cho: Tôi không viết để phê phán anh nhà báo kia cũng không chỉ trích mấy cô ca sĩ nọ bèn là giải tỏa nỗi lòng khi thấy nền âm nhạc Việt Nam đang có chiều hướng “tạp nham hóa” và khả năng cảm thụ âm nhạc của công chúng cũng từ đó mà trượt dốc theo.

Trước hết tôi xin trích dẫn vài “hiện tượng” được coi là “nổi bật và đình đám” trong làng giải trí thời gian qua.

 

Hiện tượng: "Đừng yêu em" - Lê Kiều Như

 

Hiện tượng: "Da nâu" - Phi Thanh Vân

(Các bạn hãy nghe thật kỹ 2 clip này trước khi tôi viết tiếp)

More...

Suy nghĩ về thơ xưa và nay

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 

TRẦN KIM HOÀNG:

Suy nghĩ về thơ xưa và nay

Nhìn lại con đường thơ Việt Nam đã đi qua chúng tôi không khỏi tự hào và vui sướng vì thơ đã có những mốc danh đáng nhớ được đặt một cách chắc chắn trong lịch sử. Thế nhưng thơ ngày càng có dấu hiệu chùng xuống theo kiểu "đổi thơ - lấy gạo" làm cho những người tâm huyết với thơ phải thất vọng và muốn gác bút. Vừa qua chúng tôi đã có cuộc trao đổi với anh Trần Kim Hoàng (bút danh: Mộng Du) về thơ xưa và nay. Trong khuôn khổ bài viết này tôi xin trích dẫn một số điểm chính trong bài cảm nhận của anh.

 MỘNG DU


Nhà thơ Mộng Du. Ảnh: T.Hải

 Đã có một lịch sử cho mình với một vị thế ngạo nghễ trong tâm hồn con người - Thơ từ ngàn xưa với ngàn sau là âm vang đồng vọng của kiếp người tiếng hát của những trái tim nhạy cảm và tinh tế.

Sức sống bất diệt ấy chính là nhờ vào sức sáng tạo tuyệt vời của những tâm hồn đẹp trong suốt như sương mai nó luôn rạng ngời sắc cầu vồng của cuộc đời lung linh những vui buồn kiếp nhân sinh.

Thơ đã đi với một chiều dài lịch sử của con người những thằng trầm đột giáng hằn lên trên từng con chữ. Từ khi biết khóc mẹ ru cho đến lúc nghe những khúc đồng dao dân ca và khúc nhạc chia tay với vần thơ ai oán xuôi tay về cõi vĩnh hằng cả cuộc đời đằng đẵng những chặng đường đi không bao giờ hết ấy chúng ta đã gắn bó với thơ và có lẽ mỗi một chúng ta đều tiềm ẩn một khả năng cảm thụ và sáng tạo .   

Từ ca dao đến nền thơ trung đại rồi thơ Mới thơ của hai cuộc kháng chiến bao gồm cả chính trị và nghệ thuật. Hành trình thơ Việt Nam hiện đại chưa thể so sánh với các dân tộc khác trên thế giới những nước có nền thi ca phát triển. Tuy nhiên sự du nhập văn hóa phương Tây chắt lọc vốn văn hóa dân tộc pha chút hương mùa cũ của Trung Hoa thơ Mới Việt Nam đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của một nền văn học trì trệ đến đáng thương của những trắc bằng niêm luật đối mà nhiều khi thảm hại đến mức:

"Bất chợt nảy ba vần vè khắm khú
Cũng vỗ đùi gầm rú gọi là thơ"
.

Cuộc cách mạng ấy là quy luật tất yếu cho sự phát triển nội tại của bất kì một vấn đề nào thuộc phạm trù vận hành theo quy luật lịch sử và xã hội. Nhưng bỗng dưng hai cuộc kháng chiến nổ ra thơ lại đi theo một con đường mới: nghệ thuật và chính trị. Lẽ dĩ nhiên không thể phủ nhận vai trò to lớn của thơ đối với nghĩa vụ sống còn của một dân tộc. Nhưng trong cái được thì ta cũng đã mất khá nhiều khi định hướng có tính cực đoan và máy móc theo Liên Xô và Trung Quốc.


Người nghệ sĩ với trách nhiệm quá lớn bởi những định hướng và góc nhìn thiếu thực tế nhiều khi đã tô vẽ một cách quá mức đánh bóng nhân vật nên người đọc cảm thấy sự giả tạo. Nhưng độc giả lúc bấy giờ chưa thể nhìn nhận hết được giá trị một tác phẩm trên bình diện nghệ thuật chân lí. Nhân văn giai phẩm hay những cái gì đại loại như thế là phản động là việt gian lẽ ra thơ nên có những nhánh rẽ như thế thì nền văn thơ cách mạng đã có sự phong phú và chân thực hơn dưới nhiều góc quay của lăng kính nghệ sĩ và tư duy sáng tạo sẽ đập vào điểm giữa của lí tính - tình cảm để thấu suốt hơn một giai đoạn. Không phải cái gì to lớn là vĩ đại và ngược lại không phải manh áo vải sờn không thể là thứ hoàng bào khoác trên những tâm hồn mênh mông. Cái đẹp tồn tại bằng bản chất riêng chứ không thể là thứ tạo ra bằng ba nét vẽ thô sơ của một tay thợ vẽ tập nghề. Nhưng có chăng bức vẽ không có cái giá trị kia lại nghiễm nhiên nằm trong viện trưng bày nghệ thuật lừa dối.


Nam Cao đã nói về quan điểm nghệ thuật của ông thi hào Gớt cũng đã phát biểu chân lí và gần chúng ta nhất là Tsenu Sép nư sép Xki "Cái đẹp chính là cuộc sống". Nhưng rồi mọi thứ cũng yên nghỉ đúng vị trí của nó theo quy luật đào thải âm thanh nịnh hót của một con vẹt cũng không thể sánh với tiếng hót sơn ca nơi róc rách suối chảy bên đồi cỏ hoang. Thơ lại tìm về với cuộc sống thật với những đau thương hằn sâu vào từng sợi thần kinh chiếm hai phần ba bộ não kí ức với "Gió thoảng đưa mùi đạn pháo - Những đêm mưa mái dột lạnh xé vèo" và "Những trang thư cũ cùng tôi xuống mồ". Thơ đối diện với kí ức và độc thoại để trăn trở với từng vần thơ đau buốt mất mát quá lớn trong một xã hội nặng nề guồng quay bao cấp nó không còn cái kiểu:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai
.

Mà nó là mì hột là gạo mốc là vết thương trái gió trở trời là những hạnh phúc tuổi xuân ra đi không bao giờ trở lại. Chống ngoại xâm không phải không có những vần thơ đẹp nhưng nó qua rồi niềm hào sảng để ri rỉ mạch chảy lén trong âm thầm của cô đơn. Xuân Quỳnh sống với khát khao được yêu được trọn vòng tay với hạnh phúc đời mình nhưng chị cũng không thể vượt qua cái ngưỡng "Trời
hỡi làm sao cho khỏi đói".

Rồi thế cũng qua thơ trở về với nhiều khúc hát mới nhiều cách sáng tạo mới nhưng nhìn chung vẫn tủn mủn cuộc sống đã khác không biết từ đâu nhà thơ mọc lên như nấm sau mưa từng tập thơ ném vào lòng cuộc sống mà không biết ai sẽ đọc thật là đau lòng cho thơ cho mảnh giấy qua bao nhiêu công đoạn làm trắng một độc giả vô tình mua về hay được biếu tặng bán cho mấy cô thu lượm rác phế liệu. Có một chút mới nhưng vẫn những đề tài ấy thơ tự đeo gông khi người viết quá dễ dãi. Nhiều nhà thơ hôm nay khi nhận ba đồng nhuận bút được ba giải thưởng ở các tạp chí tên tuổi thế là mặc sức tung hô nhảy cẫng lên như được tái sinh.


Thơ còn bệnh hoạn hơn vì nhà thơ chính là một con bệnh tự đắc đâu biết rằng độc giả hôm nay vốn đã không mấy cảm tình với thơ nhà thơ lại xa độc giả thậm chí có anh bảo "quen thằng cha này ỉa ra thơ nó cũng đăng". Khốn nạn cho thơ tội nghiệp cho thơ đau và khóc cho thơ. Chúng ta đã hành hạ thơ không thương tiếc. Ngậm ngùi nhìn những vần cóc viết cho mình đọc để mà vơi
những nỗi buồn. Tôi thấy mình còn chút danh dự.


Nhà thơ hôm nay có kẻ còn cho rằng xoáy sâu vào Sex là một vấn đề cần phải làm nhưng tôi biết chốn văn thơ "mưa máu gió tanh" nó cũng tranh quyền đoạt vị cũng chiếu trên chiếu dưới Sex quả thật không xa lạ gì nhưng có nên hay chăng xoáy sâu vào nó? Và thiển nghĩ của tôi đây là một đề tài rất câu khách một chiêu kiếm ăn của những nhà thơ chợ giời ăn bẩn mà không nghĩ tới những giới hạn cần thiết của nghệ thuật. Thật là phi nghệ thuật và không biết khi chuyển tải cái bản năng thô kệch kia chúng ta có nghĩ tới chút nhân văn hay là như những câu hát "hát để mà quên".


Đề tài là Sex - Sex muôn năm vì bản năng ai chẳng biết nhưng điều quan trọng là viết thế nào. Cách ăn theo này đến cả sàn diễn kịch cũng đua nhau nở như hoa phun thuốc kích thích vậy. Tại sao thế ? Đa phần chúng ta hôm nay khi thoát khỏi rào cản của cái chúng ta gọi là "ôi dào! có gì nói vậy đâu như các cụ đụng tí hét lên như sắp chết đến nơi như con lợn chọc tiết" nào Mỹ nào Anh ....đổ xô văn hóa góp vào một cái túi mà không biết đâu là sạn đâu là vàng. Chúng ta thích chiêm ngưỡng cái bản năng của mình dưới cái mà hôm nay gọi "nghệ thuật sex".


Ở một tỉnh nọ (xin phép không nói ra) vừa qua mới thành lập câu lạc bộ sáng tác trẻ cá nhân tôi đã tham gia với đúng nghĩa của nó nhưng than ôi khi bước vào chẳng khác gì tham gia vào tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng người biết viết thì ném ra lề để cho "bậc đàn anh trong văn giới" đưa bồ bịch chim nhau. Rồi một cái lề thói kìm hãm "cơ cấu" như một miếng giẻ xóa tan hàng chữ (thuộc về con chữ danh nghĩa - cái để gọi danh) kia trên bảng.


Hình thức và chủ nghĩa hình thức tồn tại trong những thú vui hết sức đáng lên án nhà thơ là người làm đẹp cho đời cho tâm hồn mình nhưng ngược lại họ là những người có nhân cách hết sức bẩn thỉu. Nếu đưa thực tài mà định danh thì chắc rằng ít cây viết trẻ trong "câu lạc bộ" (nói lái thấy cũng hay) có vì một lẽ họ tham gia với một túi tiền do thần gió mang tới và một lí do khác nữa những lần thực tế viết bài là cơ hội cho những "uyên uơng sau cánh gà" diễn kịch với những cách yêu hết sức hiện đại. Vậy thử hỏi: Thơ sẽ về đâu? thế hệ trẻ sẽ viết gì hay ném toạc lên trang giấy những ái ân vụng trộm những bản năng đê hèn?

Ngày xưa Tản Đà mang thơ lên trời bán giấc mộng và khối tình thi sĩ không một vụ lợi cho bản thân. Chúng ta hôm nay chưa nặn ra một vần thơ đã nghĩ ngay về giá trị vật chất của nó thì độc giả sẽ đón nhận ra sao? Bao giờ độc giả lại cho chúng ta một tình yêu như họ đã dành cho nhà thơ bằng một thứ tình yêu rất riêng : tình yêu nghệ thuật. Thử hỏi bao giờ chúng ta hãy làm đẹp cho mình trước khi làm đẹp cho đời. Thơ chúng ta đã chết trong phần đông độc giả đừng in thơ làm một thú chơi mà hãy nghĩ rằng bao giờ có ba người mua một cuốn thơ cho nhà thơ và bao giờ tên tuổi chúng ta sống trong lòng độc giả bằng một lẽ rất tự nhiên. Với thời gian ít ỏi và những nhận xét không tránh khỏi chủ quan phiến diện mong được sự phản hồi từ những người quan tâm tới thơ Việt Nam hôm nay. Trong thời gian tới bài cảm nhận này sẽ được bổ sung đầy đủ hơn.

M.D

More...

Phóng viên mà...chộp hết!

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha




Post (Thanh Hải).

More...

XUÂN SÁCH...ghẹo!

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Những nét sinh hoạt của những người cầm bút thời nay đã được nhiều người trình bày lại một cách tự nhiên trong số này giỏi nhất phải kể Tô Hoài. Ông biết gỡ đi phần hào quang chói lọi mà người ta hay lấy ra để lãng mạn hóa các nhà văn. Ông làm cho cái nghề gọi là sáng tạo này gần gũi với đời thường. Chỉ ông mới dám đưa Nguyễn Tuân vượt ra ngoài cái thiêng liêng giả tạo ngả sang làm dáng để trở về với những chuyện mè nheo hàng ngày dù vẫn không vì thế mà làm mất đi vẻ đáng yêu đáng kính của cụ Nguyễn. Từ trường hợp Nguyễn Văn Bổng Tô Hoài làm nổi tính chất nghiệp dư của một nền văn học. Chút thoáng điên điên khùng khùng của Võ Huy Tâm mà ông nói tới được người ta tin vì bắt nguồn từ những quan sát thực và mở đường cho sự cắt nghĩa vận mệnh ngắn ngủi của nhà văn này. Những trang chân dung Trọng Hứa cho ta thấy trong mỗi con người còn bao nhiêu mày nét khía cạnh vừa chân thành đáng yêu vừa nhởn nhơ phù phiếm.

More...

Chân dung 100 nhà văn qua cái nhìn của Xuân Sách

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha



1. Hồ Phương
Trên biển lớn mênh mông sóng nước
Ngó trông về xóm mới khuất xa
Cỏ non nay chắc đã già
Buồn tênh lại giở thư nhà ra xem.
2. Nguyễn Đình Thi
Xung kích tràn lên nước vỡ bờ
Đã vào lửa đỏ hãy còn mơ
Bay chi mặt trận trên cao ấy
Quên chú nai đen vẫn đứng chờ.
3. Tô Hoài
Dế mèn lưu lạc mười năm
Để O Chuột phải ôm cầm thuyền ai
Miền tây sen đã tàn phai
Trăng thề một mảnh lạnh ngoài đảo hoang.
4. Nguyên Hồng
Bỉ vỏ một thời oanh liệt nhỉ
Sóng gầm sông Lấp mấy ai hay
Cơn bão đến động rừng Yên thế
Con hổ già uống rượu giả vờ say
5. Nguyễn Công Hoan
Bác Kép Tư Bền rõ đến vui
Bởi còn tranh tối bác nhầm thôi
Bới tung đống rác nên trời phạt
Trời phạt chửa xong bác đã cười.
6. Nguyễn Tuân
Vang bóng một thời đâu dễ quên
Sông Đà cũng muốn đẩy thuyền lên
Chén rượu tình rừng cay đắng lắm
Tờ hoa lại trót lỡ ưu phiền.
7. Huy Cận
Các vị La hán chùa Tây phương
Các vị gày quá tôi thì béo
Năm xưa tôi hát vũ trụ ca
Bây giờ tôi hát đất nở hoa
Tôi hát chiến tranh như trẩy hội
Không nên xấu hổ khi nói dối
Việc gì mặt ủ với mày chau
Trời mỗi ngày lại sáng có sao đâu!
8. Xuân Diệu
Hai đợt sóng dâng một khối hồng
Không làm trôi được chút phấn thông
Chao ơi ngói mới nhà không mới
Riêng còn chẳng có có gì chung.
9. Tế Hanh
Quá tuổi hoa niên đã bạc đầu
Tình còn dang dở tận Hàng Châu
Khúc ca mới hát sao buồn thế
Hai nửa yêu thương một nửa sầu.
10. Chế Lan Viên
Điêu tàn ư? Đâu chỉ có điêu tàn
Ta nghĩ tới vàng son từ thuở ấy
Chim báo bão lựa chiều cơn gió dậy
Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi
sắc phù sa
Thay đổi cả cơn mơ
ai dám bảo con tầu không mộng tưởng
Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng
Lòng ta cũng như tầu ta cũng uống
Mặt anh em trong suối cạn
Hội nhà văn
11. Nguyễn Thi
Trăng sáng soi riêng một mặt người
Chia ly đôi bến cách phương trời
Ước mơ của đất anh về đất
Im lặng mà không cứu nổi đời.
12. Kim Lân
Nên danh nên giá ở làng
Chết về ông lão bên hàng xóm kia
Làm thân con chó xá gì
Phận đành xấu xí cũng vì miếng ăn.
13. Tú Mỡ
Một nắm xương khô cũng gọi mỡ
Quanh năm múa bút để mua cười
Tưởng cụ vẫn bơi dòng nước ngược
Nào ngờ trở gió lại trôi xuôi.
14. Bùi Huy Phồn (Đồ Phồn)
Phất rồi ông mới ăn khao
Thơ ngang chạy dọc bán rao một thời
Ông đồ phấn ông đồ vôi
Bao giờ xé xác để tôi ăn mừng.
15. Hoài Thanh
Vị nghệ thuật nửa cuộc đời
Nửa đời sau lại vị người ngồi trên
Thi nhân còn một chút duyên
Lại vò cho nát lại lèn cho đau
Bình thơ tới thuở bạc đầu
Vẫn chưa thể tất nổi câu nhân tình
Giật mình mình lại thương mình
Tàn canh tỉnh rượu bóng hình cũng tan
16. Vũ Tú Nam
Vốn cùng nhân dân tiến lên
Mùa đông năm ấy bỏ quên cờ đào
Con về nấp bóng ca dao
Giật mình nghe một tiếng chào:
Văn Ngan
17. Hữu Mai
Hỏng đôi mắt phải đâu là mất hết
Trong cặp còn hồ sơ điệp viên
Ông cố vấn chẳng sợ gì cái chết
Cao điểm cuối cùng quyết chí xông lên.
18. Đỗ Chu
Đám cháy ở sau lưng
Đám cháy ở trước mặt
Than ôi mày chạy đâu
Dưới vòm trời quen thuộc
Đốt bao nhiêu cỏ mật
Không bay mùi thơm tho
Càng hun càng đỏ mắt
Quay về thung lũng cò
19. Xuân Quỳnh
Mải hái hoa dọc chiến hào
Bỏ quên chòi biếc lúc nào không hay
Thói quen cũng lạ lùng thay
Trồng cây táo lại mọc cây bạch đàn
20. Phạm Tiến Duật
Trường sơn đông em đi hái măng
Trường sơn tây anh làm thơ cho lính
Đời có lúc bay lên vầng trăng
Lại rơi xuống chiếc xe không kính
Thế đấy! giữa chiến trường
Nghe tiếng bom cũng mạnh!
21. Nguyễn Thành Long
Thao thức năm canh nghĩ chẳng ra
Trò chơi nguy hiểm đấy thôi mà
Lặng lẽ giữa khoảng trong xanh ấy
Để mối đùn lên đến lúc già.
22. Đào Vũ
Trời thí cho ông vụ lúa chiêm
Ông xây sân gạch với xây thềm
Con đường mòn ấy ông đi mãi
Lưu lạc đâu rồi mất cả tên
23. Nguyễn Bính
Hai lần lỡ bước sang ngang
Thương con bướm đậu trên giàn mồng tơi
Trăm hoa thân rã cành rời
Thôi đành lấy đáy giếng thơi làm mồ.
24. Nguyễn Văn Bổng (không có hình ảnh )
Nhọc nhằn theo bước con trâu
Hỡi người áo trắng nông sâu đã từng
Mỗi bước đi một bước dừng
Mà sao vẫn lạc giữa rừng U minh.
25. Nguyên Ngọc
Mấy lần đất nước đứng lên
Đứng lâu cũng mỏi cho nên phải nằm
Hại thay một mạch nước ngầm
Cuốn trôi đất Quảng lẫn rừng Xà nu
26. Vũ Thị Thường ( Không có hình ảnh )
Từ trong hom giỏ chui ra
Đã toan gánh vác sơn hà chị ơi
Định đem cái lạt buộc người
Khổ thay ông lão vịt trời phải chăn
27. Quang Dũng
"Sông Mã xa rồi tây tiến ơi"
Về làm xiếc khỉ với đời thôi
Nhà đồi một nóc chênh vênh lắm
Sống tạm cho qua một kiếp người
Áo sờn thay chiếu anh về đất
Mây đầu ô trắng Ba vì xanh
Gửi hồn theo mộng về tây tiến
"Sông Mã gầm lên khúc độc hành"
28. Mai Ngữ ( Không có hình ảnh )
Tưởng chuyện như đùa hoá ra thật
Biết ông sòng phẳng tự bao giờ
Cái con thò lò quay sáu mặt
Vồ hụt mấy lần ông vẫn trơ
29. Nguyễn Khải
Cha và con và... họ hàng và...
Hết bay mùa thóc lẫn mùa lạc
Cho nên chiến sĩ thiếu lương ăn
Họ sống chiến đấu càng khó khăn
Tháng Ba ở Tây nguyên đỏ lửa
Tháng tư lại đi xa hơn nữa
Đường đi ra đảo đường trong mây
Những người trở về mấy ai hay
Xung đột mỗi ngày thêm gay gắt
Muốn làm cách mạng nhưng lại dát1
30. Hoàng Trung Thông
Đường chúng ta đi trong gió lửa
Còn mơ chi tới những cánh buồm
Từ thuở tóc xanh đi vỡ đất
Đến bạc đầu sỏi đá chửa thành cơm
31. Chính Hữu
Tấm áo hào hoa bạc gió mưa
Anh thành đồng chí tự bao giờ
Trăng còn một mảnh treo đầu súng
Cái ghế quan trường giết chết thơ.
32. Thanh Tịnh
Bao năm ngậm ngải tìm trầm
Giã từ quê mẹ xa dòng Hương giang
Bạc đầu mới biết lạc đường
Tay không nay lại vẫn hoàn tay không
Mộng làm giọt nước ôm sông
Ôm sông chẳng được tơ lòng gió bay.
33. Chu Văn (Không có hình ảnh )
Một con trâu bạc già nua
Nhờ cơn bão biển thổi lùa lên mây
Trâu ơi ta bảo trâu này
Quay về đất mới kéo cày cho xong.
34. Ngô Tất Tố
Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên
Chia xôi chia thịt lại chia quyền
Việc làng việc nước là như vậy
Lộn xộn cho nên phải tắt đèn.
35. Nam Cao
Anh còn đôi mắt ngây thơ
Sống mòn sao vẫn đợi chờ tương lai
Thương cho Thị Nở ngày nay
Kiếm không đủ rượu làm say Chí Phèo.
36. Xuân Thủy ( không có hình ảnh )
Xoắn mãi dây tình thơ bật ra
Paris thì thích hơn ở nhà
Đông y ắt hẳn hơn tây dược
Xe tải không bằng xe Vonga
Trên đời kim cương là quý nhất
Thứ đến tình thương dân nghèo ta
Em chớ chê anh già lẩm cẩm
Còn hơn thằng trẻ lượn Honđa.
37. Lưu Trọng Lư
Em không nghe mùa thu
Mùa thu chỉ có lá
Em không nghe rừng thu
Rừng mưa to gió cả
Em thích nghe mùa xuân
Con nai vờ ngơ ngác
Nó ca bài cải lương.
38. Nguyễn Khoa Điềm
Một mặt đường khát vọng
Cuộc chiến tranh đi qua
Rồi trở lại ngôi nhà
Cất lên ngọn lửa ấm
Ngủ ngon a Kai ơi
Ngủ ngon a Kai à...
39. Nguyễn Kiên
Anh Keng cưới vợ tháng mười
Những đứa con lại ra đời tháng năm
Trong làng kháo chuyện rì rầm
Vụ mùa chưa gặt thóc đã nằm đày kho.
40. Anh Thơ
Ấy bức tranh quê đẹp một thời
Má hồng đến quá nửa pha phôi
Bên sông vải chín mùa tu hú
Khắc khoải kêu chi suốt một đời.
41. Xuân Thiều
"Đôi vai" thì gánh lập trường
Đôi tay sờ soạng con đường cuối thôn
Nghe anh kể chuyện đầu nguồn
Về nhà thấy mất cái hồn của em.
42. Nguyễn Thị Như Trang( Không có hình ảnh )
Nhá nhem khoảng sáng trong rừng
Để cho cuộc thế xoay vần hơn thua
Xác xơ mầu tím hoa mua
Lửa chân sóng báo mây mưa suốt ngày.
43. Bùi Đức Ái (Anh Đức)
Chị Tư Hậu đẻ ra anh
Ví như hòn đất nặn thành đứa con
Biển xa gió dập sóng dồn
Đất tan thành đất chỉ còn giấc mơ.
44. Nguyễn Thế Phương( Không có hình ảnh )
Đi bước nữa rồi đi bước nữa
Phấn son mưa nắng đã tàn phai
Cái kiếp đào chèo là vậy đó
Đêm tàn bến cũ chẳng còn ai.
45. Vũ Trọng Phụng
Đã qua đi một thời giông tố
Qua một thời cơm thầy cơm cô
Còn để lại những thằng Xuân tóc đỏ
Vẫn nghênh ngang cho đến tận bây giờ.
46. Xuân Thiêm
Thơ ông tang tính tang tình
Cây đa bến nước mái đình vườn dâu
Thân ông mấy lượt lấm đầu
Miếng mồi danh lợi mắc câu vẫn thèm.
47. Đào Hồng Cẩm
Bắt đầu từ lão nghị hụt
Cầm dao giết mạng người
Chị Nhàn phải đi bước nữa
Lấy đại đội trưởng của tôi
Cuộc đời mấy phen nổi gió
Phải đem tổ quốc thề bồi
Lần này ông ra ứng cử
Chắc hẳn là trúng nghị viên thôi.
48. Nguyễn Quang Sáng
Ông Năm Hạng trở về đất lửa
Với chiếc lược ngà vượt Trường sơn
Bỗng mùa gió chướng vừa nổi dậy
Ông biến thành thằng nộm hình rơm.
49. Hoàng Văn Bổn
Có những lớp người đi vỡ đất
Mùa mưa không trồng lúa trồng ngô
Lại gieo hạt bông hường bông cúc
Trên mảng đất này hoa héo khô.
50. Phù Thăng
Chuyện kể cho người mẹ nghe
Biển lửa bốc cháy bốn bề tan hoang
Đứa con nuôi của trung đoàn
Phá vây xong lại chết mòn trong vây.
51. Nguyễn Thị Ngọc Tú
Đất làng vừa một tấc
Bao nhiêu người đến cày
Thóc giống còn mấy hạt
Đợi mùa sau sẽ hay
52. Vũ Cao
Sớm nay nhấp một chén trà
Bâng khuâng tự hỏi đâu là núi đôi
Những người cùng làng với tôi
Muốn sang đèo trúc muộn rồi đừng sang
53. Phan Tứ
Bên kia biên giới anh sang
Trước giờ nổ súng về làng làm chi
Mẫn và tôi tính chi li
Gia đình má Bảy lấy gì nuôi anh.
54. Nguyễn Huy Tưởng
Anh chẳng còn sống mãi
Với thủ đô luỹ hoa
Để những người ở lại
Bốn năm sau khóc oà.
55. Thu Bồn
Chim Chơ rao cất cánh ngang trời
Tình như chớp trắng cháy liên hồi
Đám mây cánh vạc tan thành nước
Mà đất ba dan vẫn khát hoài.
56. Bùi Hiển
Sinh ra trong gió cát
Đất Nghệ an khô cằn
Bao nhiêu năm "nằm vạ"
Trước cửa hội nhà văn.
57. Võ Huy Tâm
Đem than từ vùng mỏ
Về bán tại thủ đô
Bị đập chiếc cán búa
Hoá ra thằng ngẩn ngơ.
58. Nông Quốc Chấn
Tưởng anh dọn về làng xưa
Ngờ đâu về tận thủ đô nhận nhà
Sướng cái bụng lắm lắm à
Đêm là đèo gió ngày là hồ Tây.
59. Thế Lữ
Với tiếng sáo thiên thai dìu dặt
Mở ra dòng thơ mới cho đời
Bỏ rừng già về vườn bách thú
Con hổ buồn lặng lẽ trút tàn hơi.
60. Nguyễn Minh Châu
Cửa sông cất tiếng chào đời
Rồi đi ra những vùng trời khác nhau
Dấu chân người lính in mau
Qua miền cháy với cỏ lau bời bời
Đọc lời ai điếu một thời
Tan phiên chợ Giát hồn người về đâu?
61. Phạm Huy Thông[img=
Nếu Trương Lương không thổi địch sông Ô
Liệu Hạng Vũ có lên ngôi hoàng đế
Nhưng buồn thay đã đánh mất Ngu Cơ
Đời chẳng còn gì và thơ cũng thế.
62. Giang Nam
"Xưa tôi yêu quê hương vì có chim có bướm"
"Có những ngày trốn học bị đòn roi"
Nay tôi yêu quê hương về có ô che nắng
Có ghế ngồi viết những điệu thơ vui.
63. Bằng Việt
Nhen lên một bếp lửa
Mong soi gương mặt người
Bỗng cơn giông nổi đến
Mây che một khung trời
Đất sau mưa sụt lở
Mầu mỡ trôi đi đâu
Còn trơ chiếc guốc vàng
Trăng mài mòn canh thâu.
64. Nguyễn Trọng Oánh
Một chút hương thơm trải bốn mùa
Mười năm lăn lội chốn rừng già
Quay về không chịu ơn mưa móc
Đất nắng mưa rồi đất lại khô.
65. Nguyễn Xuân Sanh
Xưa thơ anh viết không người hiểu
"Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà"
Nay anh chưa viết người đã hiểu
Sắp sáng thì nghe có tiếng gà.
66. Thâm Tâm
"Người đi ờ nhỉ người đi thật"
Đi thật nhưng rồi lại trở về
Nhẹ như hạt bụi như hơi rượu
Mà đắm hồn người trong tái tê.
67. Nguyễn Huy Thiệp
Không có vua thì làm sao có tướng
Nên về hưu vẫn phải chết tại chiến trường
Kiếm sắc chém bao nhiêu đầu giặc
Để vàng tôi trong lửa chịu đau thương.
68. Phùng Quán
Hồn đã vượt Côn đảo
Thân xác ở trong lao
Bởi nghe lời mẹ dặn
Nên suốt đời lao đao.
69. Tố Hữu
Ta đi tới đỉnh cao muôn trượng
Mắt trông về tám hướng phía trời xa
Chân dép lốp bay vào vũ trụ
Khi trở về ta lại là ta
Từ ấy tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việt Bắc tít mù mây
Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường hoa ở đây.
70. Dương Thu Hương
Tay em cầm bông bần ly
Bờ cây đỏ thắm làm chi não lòng
Chuyện tình kể trước lúc rạng đông
Hoàng hôn ảo vọng vẫn không tới bờ
Thiên đường thì quá mù mờ
Vĩ nhân tỉnh lẻ vật vờ bóng ma
Hành trình thơ ấu đã qua
Hỡi người hàng xóm còn ta với mình.
71. Hữu Thỉnh
Cùng đoàn quân anh đi tới thành phố
Bị lạc đường về hội nhà văn
Ờ nhỉ bao giờ quay trở lại
Với năm anh em trên một chiếc xe tăng.
72. Trần Bạch Đằng
Ván bài lật ngửa tênh hênh
Con đường thiên lý gập ghềnh mãi thôi
Thay tên đổi họ mấy hồi
Vẫn chưa tới được chân trời mộng mơ
73. Nguyễn Duy
Mẹ và em đang ở đâu
Giữa vùng cát trắng đêm thâu gió lùa
Ổ rơm teo tóp ngày mùa
Xác xơ thân lúa vật vờ thân tôi
Bờ tre kẽo kẹt liên hồi
Bầu trời vuông với một ngôi sao dời
Đánh thức tiềm lực suốt đời
Ai?
Chẳng ai đáp lại lời của tôi.
74. Nguyễn Mạnh Tuấn
Anh đã đứng trước biển
Cù lao Chàm kia rồi
Nhưng khoảng cách còn lại
Xa vời lắm anh ơi.
75. Trần Mạnh Hảo
Ôi thằng Trần Mạnh Hảo
Đi phỏng vấn Chí Phèo
Lão chết từ tám hoánh
Đời mày vẫn gieo neo
Còn cái lão Bá Kiến
Đục bản in thơ mày
Bao giờ mày say rượu
Bao giờ mày ra tay
76. Hoàng Cầm
Em ơi buồn làm chi
Em không buồn sao được
Quan họ đã vào hợp tác
Đông hồ gà lợn nuôi chung
Bên kia sông Đuống em trông
Tìm đâu thấy lá diêu bông hỡi chàng.
77. Lê Lựu
Người về đồng cói người ơi
Phía ấy mặt trời mọc lại
Một thời xa vắng xa rồi
Phủ Khoái xin tương oai oái
Ở đời gặp may hơn khôn
Nào ai dám ghen dám cãi
Người đã đi Mỹ hai lần
Biết rồi khổ lắm nói mãi
78. Vũ Quần Phương
Anh đứng thành tro... em có biết
Hôm qua lại gặp chuyến xe bò
Vẫn anh đi trong vầng trăng cũ
Áo đỏ bên cầu đợi ngẩn ngơ.
79. Hữu Loan
Ôi màu tím hoa sim
Nhuốm tím cuộc đời dài đến thế
Cho đến khi tóc bạc da mồi
Chưa làm được nhà
còn bận làm người
Ngoảnh lại ba mươi năm
Tìm mãi nghìn
chiều hoang
biền biệt
80. Lý Văn Sâm
Kiên Trì dấn bước đường chinh chiến
Nửa gánh giang hồ nửa ái ân
Ngàn sau sông Dịch còn tê lạnh
Tráng sĩ có về với bến xuân.
81. Tản Đà
Văn chương thuở ấy như bèo
Thương cụ gồng gánh trèo leo tận trời
Giấc mộng lớn đã bốc hơi
Giộc mộng con suốt một thời bơ vơ
Tiếc chi cụ sống tới giờ
Chợ trời nhan nhản tha hồ bán văn.
82. Lưu Quang Vũ
Cũng muốn tin vào hoa hồng
Tin vào điều không thể mất
Cả tôi và cả chúng ta
Đứng trong đầm lầy mà hát
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm đã chết
Ông không phải là bố tôi
Con chim sâm cầm ai giết1
83. Hà Minh Tuân
Bốn mươi tuổi mới vào đời
Ăn đòn hội chợ tơi bời xác xơ
Giữa hai trận tuyến ngu ngơ
Trong lòng Hà nội bây giờ ở đâu?
84. Minh Huệ
Vỡ lòng câu thơ viết
Mời bác ngủ bác ơi
Đêm nay bác không ngủ
Nhà thơ ngủ lâu rồi
85. Văn Cao
Thiên thai - từ giã về dương thế
Nhắc chi ngày ấy buồn lòng ta
Sân đình ngất ngưởng ngôi tiên chỉ
Uống rượu say rồi hát quốc ca
86. Ma Văn Kháng
Khi xuôi anh mang theo
Đồng bạc trắng hoa xòe
Với một mối tình sơn cước
Mùa lá rụng trong vườn
Năm này qua năm khác
Đám cưới vẫn không thành
Vì giấy gía thú chửa làm xong
87. Vũ Bão
Sắp cưới bỗng có thằng phá đám
Nên ông chửi bố chúng mày lên
Đàu chày đít thớt đâu còn ngán
Không viết văn thì ông viết phim.
88. Hồ Dzếnh
Biết mấy mươi chiều khói thuốc bay
Quê nhà vẫn lẩn khuất trong mây
Lui về ký ức chân trời cũ
Uống chén rượu buồn không dám say.
89. Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi
Cái nợ lên xanh rũ sạch rồi
Cửa Việt tung hoành con sóng vỗ
Sông Hương lặng lẽ chiếc thuyền trôi
Sử thi thành cổ buồn nao dạ
Chuyện mới Đông hà tái nhợt môi
Từ biệt chốn xưa nhiều ánh lửa
Trăm năm ông phủ... Ngọc Tường ơi!
90. Phạm Thị Hoài
Dẫu chín bỏ làm mười
hay mười hai cũng mặc
Chẳng ai dung thiên số đất này
Dụ đồng đội vào trong mê lộ
Rồi bỏ đi du hí đến năm ngày.
91. Thanh Thảo
Giặc dã yên rồi về
xoay khối vuông Ru bích
Đoán vận rủi may
Thưa quý vị xin mời1
Xanh tím trắng đỏ vàng đều rõ hết
Ta cùng vào cuộc chơi.
Không gian bốn năm chiều
thời gian xin tuỳ thích
Đảo lộn tùng phèo thật gỉa trắng đen
"Tôi như cục xà bông thứ thiệt"
Cứ đổ rượu vào
hình quý vị sẽ hiện lên.
92. Trần Dần
Người người lớp lớp
xông ra trận
Cờ đỏ
mưa sa
suốt dặm dài
Mở đợt phá khẩu
tiến lên
nhất định thắng
Lô cốt mấy tầng
đè nát vai
Dẫu sông núi cỏ cây làm chứng
Hồn vẫn treo trên
Vọng hải đài.
93. Khương Hữu Dựng
Ba lô trên vai từ đêm mười chín
"Một tiếng chim kêu sáng cả rừng"
Thì cứ khắc đi rồi khắc đến
Sao còn ngồi đấy cụ già Khương?
94. Bùi Minh Quốc
Tuổi hai mươi xung phong lên Tây bắc
Nguyện hi sinh chiến đấu dưới cờ
Lại xung phong vào Nam đánh giặc
Với bà cụ đào hầm đầu bạc phơ phơ
Hoà bình rồi tiến lên đổi mới
Bất ngờ ngã ngựa chốn non cao
Dẫu thân thể mang đày thương tích
Thì cuộc đời vẫn đẹp sao
Tình yêu vẫn đẹp sao1
95. Ý Nhi
Trái tim với nỗi nhớ ai
Như cây trong phố đứng hoài chờ trăng
Như người đàn bà ngồi đan
Sợi dọc thì rối sợi ngang thì chùng.
96. Yến Lan
Ra đi từ bến My Lăng
Bao năm dấu kín ánh trăng trong lòng
Tuổi già về lại bến sông
Trăng xưa đã lớn phải chong đèn dầu
97. Phan Thị Thanh Nhàn
Dấu một chòm thơ trong chiếc khăn tay
Em hăm hở đi tìm người trao tặng
Những kẻ phong lưu những tên du đãng
Mấy ai biết hương thầm của cô gái xóm đê.
98. Trần Đăng Khoa
Chú dế góc sân hồn nhiên ca hát
Hát thành thơ như nước triều lên
Khi khôn lớn lại hồn nhiên đi giữa
"Biển một bên và em một bên".
99. Hoàng Lại Giang
Người đàn bà một thời tôi ao ước
Trên vành đai Mỹ những năm xưa
Tình yêu đã lụi tàn cùng ký ức
Nhưng còn đây tàn lụi đến bao giờ?
100. Xuân Sách (Tự hoạ)
Cô giáo làng tôi đã chết rồi
Một đêm ra trận đất bom vùi
Xót xa đình Bảng người du kích
Đau đớn Bạch đằng lũ trẻ côi
Đường tới chiến công gân cốt mỏi
Lối vào lửa sởn tóc da mồi
Mặt trời ảm đạm quê hương cũ
Ở một cụm đường rách tả tơi.

More...

Ông già nói tiếng Anh như gió!

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Trình độ tiếng Anh của tôi vốn không mấy ổn lắm nên tôi luốn cố gắng học môn này. Hôm nay lên mạng vô tình thấy được đoạn Video dưới đây. Một ông già 60 tuổi nói tiếng Anh chuẩn đến mức hết chê luôn! xem xong tôi thấy mình phải cố gắng hơn mời các bạn cùng xem.

More...

Nhà văn Y Ban bị sốc khi “I am đàn bà” bị thu hồi

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Nhà văn Y Ban bị sốc khi “I am đàn bà” bị thu hồi

Nhà văn Y Ban: “Truyện nào viết ra tôi cũng cho 10 điểm hết!”

“Việc cuốn sách bị thu hồi cho đến bây giờ tôi cũng chưa được ai giải thích cho là bị thu hồi vì lý do gì. Còn về sex tôi đã từng nói trên báo chí là tôi dùng sex làm phương tiện và mục đích để truyền tải ý đồ của mình” tác giả cuốn “I am đàn bà” bức xúc.

Khi biết tập truyện “I am đàn bà” của mình - ấn phẩm Nhà xuất bản (NXB) Phụ nữ Công ty Văn hoá & Truyền thông Nhã Nam liên kết xuất bản bị thu hồi chị phản ứng ra sao?

Nghe tin tôi cực kỳ bị sốc. Tôi như một tội đồ khi mọi người nghĩ tôi vừa gây ra scandal để đánh bóng tên tuổi. Có nhà văn còn nhắn tin: “Chúc mừng vì cậu càng… nổi tiếng”. Tôi rơi vào trạng thái rất chán. Chồng tôi cũng là một nghệ sĩ chúng tôi chỉ biết chia sẻ với với nhau chứ bạn bè thì...

Nếu như “I am đàn bà” bị sửa chữa gạch bỏ một số trang đoạn nữa với tư cách là tác giả chị xử lý thế nào?

Cuốn sách I am đàn bà do NXB Công an Nhân dân ấn hành tôi đã đồng ý với biên tập cắt bỏ một số đoạn và cũng đồng ý với bản thảo giống hệt do NXB Phụ nữ liên kết với Nhã Nam xuất bản nhưng nếu NXB Phụ nữ cắt bỏ nữa thì tôi sẽ không đồng ý cho in.

Khi tôi đồng ý liên kết với Nhã Nam trong văn bản có nói khi biên tập cắt bỏ đoạn nào thì phải thông qua tác giả. Cho đến bây giờ tôi cũng không biết NXB Phụ nữ định cắt bỏ đoạn nào như thế nào của tôi.

Có nhiều người cho rằng sở dĩ cuốn “I am đàn bà” bị thu hồi là do tác giả quá sa đà vào khía cạnh sex?

Về chuyện cuốn sách bị thu hồi đến giờ tôi cũng chưa được ai giải thích lý do vì sao. Còn về sex tôi đã từng nói trên báo chí là tôi dùng sex làm phương tiện và mục đích để truyền tải ý đồ của mình. Thực ra trong cuốn này tôi “buông thả” mình nhưng hoàn toàn ý thức được việc viết của mình.

Nếu theo lối viết của ngày xưa tôi có thể cắt bỏ đi rất nhiều đoạn của truyện ngắn I am đàn bàTự mà vẫn là truyện ngắn hay. Nhưng tôi nói thẳng ra thế này tôi cũng có máu ăn thua tí. Các cô trẻ viết sex tôi cho rằng chưa “chín” chưa “thấm” gì so với người đàn bà 46 tuổi  một chồng 2 con nên tôi thử “tung ra” để mọi người xem như thế nào.

 Y Ban: “Tôi dùng sex làm phương tiện

và mục đích để truyền tải ý đồ của mình…” 

Biết là chị viết như một sự trải nghiệm đến tận cùng của một người đàn bà có “máu ăn thua” với “các cô viết trẻ” nhưng với “Tự” và“I am đàn bà” người ta nói Y Ban đề cập sex với lối thể hiện dường như quá đà buông tuồng dễ dãi?

Nếu đó là lời nhận xét của độc giả thì tôi hoàn toàn tôn trọng. Bản thân tôi tôi hoàn toàn làm chủ được ngòi bút của mình. Nếu tôi “buông thả” thì tôi đã viết cuốn này thành tiểu thuyết rất…ẩm ướt.

Trong Tự tôi đưa ra những vấn đề rất nóng của xã hội từ thời bao cấp mở cửa và hội nhập cùng thân phận người phụ nữ xuyên suốt các thời kỳ đó. Còn I am đàn bà tôi viết khi đọc bài báo về người phụ nữ đi làm ôsin bên xứ người trần trụi một tí nhưng tư tưởng rất nhân văn.

Tôi là một nhà văn nghiêm túc. Tôi nghĩ vấn đề mình đề cập rất nhân văn và tôi làm mọi điều để nó đến được với độc giả chứ tôi không phải kẻ háo danh gây sốc để thu hút sự chú ý.

Nếu cho thang điểm 10 chị tự chấm cho cuốn “I am đàn bà” điểm mấy?

Quan điểm của tôi là truyện nào vừa ra là truyện tôi thích nhất. Truyện nào viết ra tôi cũng cho 10 điểm hết!

Tôi rất khoái khi I am đàn bà ra được. Những đứa con nào mà mình nuôi nó dễ quá thì ít có kỷ niệm với mình ngược lại đứa con nào mang nặng đẻ đau “nhiều chuyện” thì lại có nhiều duyên nợ hơn. Riêng cái cuốn này tôi chờ đợi nó ra đời lâu quá. Từ tháng 8/2005 tôi đã đưa nó sang NXB Hội Nhà văn nhưng họ không cho giấy phép cho đến cuối năm 2006 nó mới xin được giấy phép ra đời dưới NXB Công an Nhân dân nhưng cũng gặp không ít sóng gió.

 

Bìa cuốn "I am đàn bà" của NXB Phụ nữ (trái)

và bìa "I am đàn bà" của NXB Công an Nhân dân.

Không chỉ “gặp sóng gió” trong dư luận mà cuốn sách bị thu hồi còn ảnh hưởng tới vấn đề…“tiền nong”?

Dĩ nhiên là ảnh hưởng chứ sách không được phát hành thì tôi cũng bị thiệt hại về kinh tế. Đấy là chưa nói đến việc tôi mang truyện ngắn I am đàn bà dự thi trên báo Văn nghệ cuối tháng 3 tổng kết. Giờ mọi chuyện ầm ĩ như thế này thì… ảnh hưởng vô cùng rồi!

Chị từng nói chị chỉ muốn có những người “đập” cho mình một cú vào mặt để mình đừng…ảo tưởng. Vậy việc cuốn “I am đàn bà” bị thu hồi có thể coi là “một cú đập vào mặt chưa”?

Mọi người vẫn thường trêu tôi là Y Ban được nhiều ưu ái và khen ngợi quá. Cuốn nào của tôi ra cũng thu hút sự chú ý và gặt hái thành quả nên đã đến lúc “đập cho Y Ban một cú”. Quả thật khen mà không đúng tôi chẳng thích. Nhưng đập thì cũng phải đập làm sao cho đúng. Nếu nói cuốn này sex dễ dãi và thu hồi thì tôi không tâm phục khẩu phục.

Xin cảm ơn chị về cuộc trò chuyện thẳng thắn này!

Nguyễn Hằng

More...

Vĩnh biệt nhà thơ Vũ Cao

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Vũ Cao là nhà thơ hiền hiếm có. Ông hiền trong thơ hiền trong đời hiền với người. Ông vừa mất rạng sáng ngày 3/12 tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Xô.

Nổi tiếng sau kháng chiến chống Pháp với bài thơ Núi Đôi bất tử Vũ Cao lẽ ra có thể nhân thành công đó "bung" thơ mình lên. Nhưng ông lại cứ như người bộ hành chậm rãi lại hay "nhường đường" cho người khác cho các nhà thơ khác.

vucao.jpg
Nhà thơ Vũ Cao

Là một trong những tổng biên tập có thâm niên cao nhất của tạp chí Văn nghệ Quân đội - những 15 năm - đã có rất nhiều công lao bồi dưỡng giới thiệu nhiều nhân tài thơ cho đất nước nhưng Vũ Cao lại quá khiêm nhường khi nói về mình. 

"Tôi học làm thơ mục đích cũng chỉ là để phục vụ bộ đội" ông tâm sự như vậy.

Và chắc chắn những người lính từ chống Pháp tới chống Mỹ là những người nhớ tới ông nhiều nhất biết ơn ông nhiều nhất vì những bài thơ "phục vụ bộ đội" mà ông đã viết trong đó nổi bật nhất được nhớ tới nhiều nhất vẫn là thơ Núi Đôi:

Viết tên em thành liệt sĩ/Bên những hàng bia trắng giữa đồng/Nhớ nhau anh gọi: em đồng chí/Một tấm lòng trong vạn tấm lòng/Anh đi bộ đội sao trên mũ/Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm".

Có lẽ chưa nhà thơ kháng chiến nào viết được bài thơ về liệt sĩ về đồng đội về người yêu và về người đồng chí chân tình đến thế thiết tha và đau đớn đến thế. Cũng chưa ai gọi: Em đồng chí mà người nghe cảm thấy ngọt lành như Vũ Cao đã gọi trong bài thơ mình.

Cái tình thật không tô vẽ không đãi bôi là những gì "người hiền Vũ Cao" mang ra đối đãi suốt cuộc đời làm văn nghệ của mình.

Được làm quen với ông từ sau hòa bình 1975 nhất là thời gian tôi ở Trại sáng tác Quân khu 5 thường có thơ gửi đăng ở tạp chí Văn nghệ Quân đội và Vũ Cao cũng đã nhiều lần vào Đà Nẵng đi sáng tác hay đơn giản chỉ là để anh em gặp nhau uống ly rượu tôi đã thực sự hạnh phúc khi được ánh mắt đặc biệt dịu hiền của Vũ Cao âu yếm nhìn mình - một nhà thơ đàn em.

Chúng tôi thường gọi Vũ Cao là "anh" đúng như cách những đứa em gọi người anh ruột thịt. Và Vũ Cao luôn đối xử với chúng tôi như những người em ruột thịt.

Gia đình văn học mà có những huynh trưởng như thế thật có phúc! Gần như Vũ Cao không màng đến danh lợi tước vị. Ông làm tổng biên tập vì được tín nhiệm và để giúp đỡ anh chị em mình thế thôi.

Với nhà thơ trẻ hay người mới đi những bước đầu tiên trong văn học mà may mắn được gặp được trao đổi hay tâm sự với Vũ Cao là một điều may mắn. Ông đúng là "Cao" không chỉ ở tầm thước mà ở chính nhân cách.

Không sáng tác nhiều nhưng những gì Vũ Cao để lại cho thơ Việt Nam tôi nghĩ cũng là những đóng góp rất riêng của ông. Sau này nhiều năm lại tham gia cùng ông trong Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam mà ông là chủ tịch tôi lại càng quý mến sự công bằng và cái tình của ông với những người làm thơ nhất là với những nhà thơ trẻ.

Luôn luôn có cảm giác như Vũ Cao lặng lẽ "nhường đường" một cách tự nguyện một cách an nhiên một cách chân thành với những nhà thơ đến sau mình nhưng có khát vọng vươn lên.

Cả với những người có tham vọng ông cũng lùi lại tránh sang một bên cho họ. Ông chẳng "ăn thua đủ" về bất cứ cái gì kể cả với Thơ. Có thể đó chưa hẳn là một phẩm chất của "người thành công".

Nhưng Vũ Cao là vậy. Ông đã không thay đổi mình cho tới phút cuối đời. Một người hiền trong sáng vô tư. Nhưng có một lần uống rượu cực vui với ông ở nhà 1B Ba Đình (Đà Nẵng) hôm ấy Vũ Cao rất cao hứng và tôi đã chứng kiến một Vũ Cao rất khác rất tuyệt vời: ông hào sảng xuất thần đọc thơ Thâm Tâm và Quang Dũng hay đến "không chịu nổi".

Và tôi muốn lưu giữ hình ảnh ấy của Vũ Cao khi nhớ về ông trong giờ phút vĩnh biệt này. 

Nhà thơ Vũ Cao tên khai sinh là Vũ Hữu Chỉnh sinh ngày 18/2/1922 tại xã Liên Minh huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định trong một gia đình Nho học.

Ngoài Núi Đôi  - tác phẩm sáng chói trong văn nghiệp của ông ông còn sáng tác Sớm nay (thơ)   Anh em anh chàng Lược  (truyện)   Em bé bên bờ sông Lai Vu  (truyện)...

Vũ Cao từng kinh qua các chức vụ: Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội Phó chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam.

Ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001.

Rạng sáng ngày 3/12 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Xô (Hà Nội) Vũ Cao đã về cõi vĩnh hằng. Lễ viếng và truy điệu vào 9 giờ sáng ngày 8/12 tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng số 5 Trần Thánh Tông Hà Nội.

Theo Nhà thơ Thanh Thảo

More...

Phạm Tiến Duật: “Lửa đèn” đã tắt!

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

 

Nhà thơ Phạm Tiến Duật. Ảnh: N.Đ.Toán

Sau nhiều ngày hôn mê vì căn bệnh ung thư phổi lúc 8 giờ 49 phút sáng 4-12 nhà thơ Phạm Tiến Duật đã qua đời tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.

Phạm Tiến Duật sinh ngày 14-1-1941 tại huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ. Năm 1964 ông lên đường nhập ngũ và chiến đấu trên các tuyến đường Trường Sơn.

Trong thời gian này ông đã sáng tác rất nhiều bài thơ nổi tiếng như: Gửi em cô thanh niên xung phong Trường Sơn đông Trường Sơn tây Bài thơ về tiểu đội xe không kính Lửa đèn Nhớ Bếp lửa nhà mình…Chính những năm tháng chiến tranh ác liệt ở Trường Sơn đã tạo nên thơ Phạm Tiến Duật và Phạm Tiến Duật cũng là người mang Trường Sơn vào thơ nhiều nhất. Ông đã đoạt giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1970 và sau đó được kết nạp vào Hội Nhà văn VN. Chiến tranh kết thúc ông về làm việc tại Hội Nhà văn VN và từ đó đến nay sống tại Hà Nội là Phó trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn VN. Những năm cuối đời không chỉ làm thơ viết báo ông còn làm MC của một chương trình dành cho người cao tuổi được phát trên sóng của Đài Truyền hình VN. Năm 2001 nhà thơ Phạm Tiến Duật được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Trong những ngày Phạm Tiến Duật lâm trọng bệnh những người bạn thân cũng đã gấp gáp hoàn thành tuyển tập Phạm Tiến Duật để ông được tận mắt chứng kiến ngày chào đời đứa con tinh thần của mình. Ngày 19-11 vừa qua Chủ tịch nước cũng đã ký quyết định tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhì cho nhà thơ Phạm Tiến Duật để ghi nhận những cống hiến của ông đối với nền văn học nghệ thuật VN.


H.L.Anh(Báo Người Lao Đông)

More...

Nhà thơ Phạm Tiến Duật trên dằng dặc...

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Nhà thơ Phạm Tiến Duật trên dằng dặc con đường...


TP - Trong những người bạn của Phạm Tiến Duật có lẽ tôi là người quen biết Duật nhiều năm nhất? Trên nửa thế kỷ chúng tôi biết nhau. Duyên do là mẹ Phạm Tiến Duật là người làng Sỏi quê tôi.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật tại Đức

Bà lấy bố Phạm Tiến Duật là người chồng thứ hai và theo chồng lên thị xã Phú Thọ sinh sống.

Vào những năm cuối của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp chúng tôi đều tản cư về xóm Đồng Bở xã Thái Ninh huyện Thanh Ba tỉnh Phú Thọ. Hồi đó quê tôi là vùng tự do nhưng quân Pháp đóng bên Trung Hà Hưng Hóa thường mở những cuộc càn lên vùng quê tôi.

Gia đình chúng tôi lên tản cư chạy càn còn gia đình Phạm Tiến Duật cũng từ thị xã về đây định cư. Tôi nhớ ngày ấy chúng tôi đều 11 12 tuổi gì đó (Duật cùng tuổi với tôi tuổi con Rắn Tân Tỵ 1941).

Duật là người thị xã lại con nhà công chức bố Duật từng làm ông ký ông phán gì đó ở tỉnh. Duật khi ấy ăn mặc rất diện kiểu tỉnh thành áo cộc tay trắng quần soóc trắng đi đôi dép cao su đúc cũng màu trắng. Bọn chúng tôi nhìn Duật ăn mặc sinh hoạt mà thèm. Chúng tôi cùng nhau đi học tại trường xã. Duật bao giờ cũng là người học giỏi nhất lớp.

Xong những trận càn tôi lại về quê dưới Lâm Thao còn Duật vẫn ở lại xóm Đồng Bở. Thế rồi hòa bình lập lại chúng tôi không gặp nhau nữa mỗi người học hành kiếm ăn một nơi.

Vào năm 1966 khi ấy tôi đã nhập ngũ vào Cục Vận tải quân sự được 1 năm thì Cục mở Hội nghị quyết thắng. Tôi nhớ nơi hội nghị tổ chức là trường Đại học Tổng hợp khu Mễ Trì. Các sinh viên đều đi sơ tán cả nên bộ đội mượn nhà trường thoải mái.

Tại đây tôi gặp lại Phạm Tiến Duật. Thấy tôi trang trí cho hội nghị Duật đến xem và bất ngờ chúng tôi nhận ra nhau. Duật cũng mới từ lính cao xạ trên Việt Bắc chuyển về Cục Vận tải được giữ lại ở Ban Tuyên huấn phòng Chính trị Cục.

Lúc này tôi ở Tiểu đoàn 936 làm ở bộ phận chính trị. Nhờ có khiếu viết khẩu hiệu và vẽ tàm tạm nên thường được điều đi trang trí hội nghị. Rồi Tiểu đoàn tôi ra tờ tin nội bộ tôi được phân công biên tập trình bày.

Bản tin in li tô chữ viết ngược bằng tay để khi in thành chữ xuôi. Tôi học mãi mới có thể viết thành thạo. Tôi thường viết những bài ca dao về các chiến sỹ vận tải trên bản tin đó. Có lần Phạm Tiến Duật khen tôi viết ca dao hay. Thế là chúng tôi thường trao đổi với nhau về thơ ca.

Một thời gian Duật được giao nhiệm vụ nhân viên câu lạc bộ anh giữ một kho nào đài Orionton phim ảnh pin vải giấy. Duật vốn nghệ sỹ nên việc quản lý kho rất lỏng lẻo nhiều khi phát cho đơn vị không ghi sổ sách hoặc ai xin gì cũng cho. Thế là thâm hụt kho vật tư câu lạc bộ Duật bị phê bình và chuyển sang đội chiếu bóng của Cục.

Phạm Tiến Duật là người thuyết minh phim loại giỏi anh hoạt ngôn lắm khi bịa thêm làm cho lính nhiều phen cười vỡ bụng. Hồi ấy hay chiếu phim Liên Xô có nhiều cảnh lính uống rượu Duật bịa: “Nào làm chén quốc lủi” . Đang phim Tây lại dùng ngôn ngữ dân gian ta chen vào nên rất tức cười. Không thể kể hết những câu pha trò của Duật trong những buổi chiếu phim.

Tôi nhớ vào năm 1967 tôi chuyển vào Thanh Hóa công tác tại Ban Chính trị Binh trạm 10 có lần Duật vào chiếu phim tại binh trạm. Ngày ấy anh vừa viết xong bài thơ Lửa đèn Duật ghi tặng cho tôi bản đánh máy. Tôi đọc thơ Duật mà thích quá: Anh cùng em sang bên kia cầu/ nơi có những miền quê yên ả...

Bài thơ viết về Thanh Hóa nơi có cầu Hàm Rồng mà tôi đang đóng quân. Trong những ngày ở Binh trạm Duật còn viết một bài thơ về quán Dắt cái ngã tư lên Triệu Sơn ấy đã vào thơ Duật ngọt ngào dân dã. Duật tặng tôi bản viết tay có chữ ký rất đẹp. Tôi còn nhớ bài thơ có những câu như sau:

Ngã tư là ngã tư nào
Chưa ra đã nhớ chưa vào đã quên
Biết đâu đấy có nhà em
Mà nhìn cho rõ mà xem cho tường

Sau này tôi thấy các tập thơ của Duật không có bài thơ đó. Có lẽ anh cho nó như ca dao như một ghi chép chưa thành thơ.

Cuộc chiến tranh chống Mỹ ngày càng quyết liệt. Tuyến vận tải chiến lược phát triển rộng lớn. Bộ Tổng tư lệnh thành lập Đoàn 500 làm nhiệm vụ trung chuyển giữa hậu phương và tiền tuyến tức là giữa Cục Vận tải Tổng cục Hậu cần và Đoàn 559. Phạm Tiến Duật được cử vào công tác tại đây.

Thế là tôi và Duật không ở cùng Cục Vận tải. Duật ở Đoàn 500 rồi chuyển vào Đoàn 559. Hồi này thơ Duật đã nổi tiếng trên văn đàn và sau đó anh chiếm giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ.

Tôi vẫn công tác tại Cục Vận tải và viết thơ nhiều hơn. Thi thoảng chúng tôi in chung trong một số báo. Tôi vẫn là anh chàng hay viết ca dao. Tạp chí Văn nghệ quân đội hồi ấy hay in ca dao tôi là một tác giả thường xuyên đóng góp cho mục này.

Tôi nhớ khi ấy Tạp chí Văn nghệ quân đội sơ tán xuống phố Ông Ích Khiêm (chỗ nhà chờ vào viếng Bác bây giờ) tôi đến đó lĩnh nhuận bút và gặp Phạm Tiến Duật. Một anh ở Trường Sơn ra một anh từ Thanh Hóa ra lại là bạn lâu ngày nên gặp nhau mừng vui tíu tít.

Chị Định người phụ trách phát nhuận bút mở sổ cộng tiền cho tôi được 30 đồng. Ba mươi đồng hồi ấy to lắm. Tôi rủ Duật ra ăn kem đãi ông bạn đồng hương một chầu kem quốc doanh xả láng. Không biết chúng tôi ăn bao nhiêu que mà chả mất mấy tiền. Hôm sau tôi gặp Duật anh kêu lên bị đau bụng hút chết vì kem.

Hòa bình thì chúng tôi thường xuyên gặp nhau Phạm Tiến Duật ở báo Văn nghệ tôi ở Nhà xuất bản Quân đội. Năm 1993 tôi chuyển ngành về Hội Nhà văn thì chúng tôi coi như cùng một nhà.

Vài năm sau Duật từ báo Văn nghệ chuyển lên cơ quan Hội phụ trách phó ban Đối ngoại tôi là Phó giám đốc Quỹ văn học. Ngày ấy tôi có cảm giác cơ quan Hội còn ấm áp vì cùng một trang lứa cùng lính tráng một thời cả.

Chúng tôi thân nhau nhưng không là bạn bù khú vì tôi không uống được bia rượu nên thường không tham gia các cuộc nghiêng ngả thâu đêm. Với Duật hình như anh mượn rượu để quên bớt những nỗi nhọc nhằn của kiếp người. Có lần anh khóc hu hu trước mặt tôi. Chúng tôi biết anh có nỗi đau riêng nên chẳng ai chạm đến.

Dù gì đi nữa Phạm Tiến Duật là người đặt cột cây số đầu tiên trên con đường thi ca trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Con đường Trường Sơn có bao nhiêu sự tích bao nhiêu anh hùng nhưng chỉ có một Phạm Tiến Duật lấp lánh thi ca.

Phạm Tiến Duật là người có công đầu đưa thơ nhập thế thơ cùng người hành quân ra trận. Hay nói cách khác Phạm Tiến Duật đã mang Trường Sơn sừng sững vào thơ.

Không ai có thể tính được sự đóng góp của văn học nghệ thuật trong những cuộc chiến tranh giữ nước. Nó không có huân chương không có anh hùng nhưng sức mạnh của nó đã góp phần quan trọng làm nên chiến thắng. Một khúc hát một bài thơ có sức kêu gọi hơn vạn lời hô hào cứng nhắc.

Trong công trạng không có trong bản tuyên dương ấy có một nhà thơ lớn Phạm Tiến Duật.

29/10/2007

Nhà thơ Trần Nhương

More...