Sóng gió Lam Phương

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Sóng gió Lam Phương
 
[06.05.2011 22:39]
 
 

Tôi xin mở đầu bài viết bằng hai chữ “bất ngờ”. Quả đúng tôi thật sự bất ngờ khi một nhạc sĩ được xếp vào Top những nhạc sĩ thành công nhất trong nền Tân nhạc Việt Nam như nhạc sĩ Lam Phương mà báo giới không hề có một dòng nào đề cập đến ông. Hôm nay tôi xin mạo muội khai bút viết về ông với tâm lý của một kẻ hành văn “cả gan” mong chia sẽ cùng bạn đọc.

Người đọc bây giờ khôn: thích vắn tắt ghét những cách hành văn trích dẫn năm tháng ngày giờ dài dòng. Nhưng vì tôi là một kẻ “cả gan” mạo muội xin dung nhẫn cho tôi khi trình bày theo cách này.

Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng sinh ngày 20 tháng 3 năm 1937 tại làng Vĩnh Thanh Vân Rạch Giá Kiên Giang (nay là phường Vĩnh Thanh Vân thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang). Ông là một trong những nhạc sĩ tiên phong của làng tân nhạc miền Nam Việt Nam (thuộc thế hệ nhạc sĩ thứ 3 theo 70 Tân nhạc Việt Nam do nhà văn Hoài Nam biên soạn) với hơn 200 ca khúc được phổ biến rộng rãi và yêu thích.

Tuổi thơ khốn khó

Mồ côi cha từ nhỏ (thực ra lúc bấy giờ cha Lam Phương vẫn còn nhưng đã bỏ mẹ con ông ra đi và ông không nhận được sự trợ giúp nào từ người cha) ông ở với người mẹ nghèo và năm anh em. Trong ký ức của ông bà là một người mẹ quê mùa chất phác nhưng giàu lòng  thương yêu con. Thuở ấy ông còn nhỏ nên chưa có thể gánh vác được việc gia đình cuộc sống của sáu anh em ông đặt trên vai người mẹ.

Vì thương mẹ ông không thể đứng nhìn mẹ vất vả lo cho cả gia đình. Thấy đàn em nheo nhóc căn nhà lá lụp xụp ông đã nghĩ đến một cách giải thoát. Đây không phải là cách giải thoát tầm thường như những kẻ trốn chạy bảo toàn mạng sống cho mình mà là một sự giải thoát gánh nặng cho người khác. Năm 1947 ông lên Sài Gòn ở nhờ nhà một người dì tại Tân Định. Những tháng này sống cùng người dì ở đây ông đã quen được một nhạc sĩ nhạc sĩ vô danh này chính là người đầu tiên gieo vào lòng Lam Phương những Do Re Mi Fa… từ những hình nốt ấy đã khởi đầu cho con đường âm nhạc của ông.

Năm 1952 cậu bé 15 tuổi với vốn kiến thức âm nhạc vỡ lòng nhưng tâm hồn lại thăng hoa đến mức không tưởng bản nhạc đầu tiên Chiều thu ấy ra đời: “Chiều thu ấy ngồi bên em dưới ánh trăng vai kề vai. Nhìn mây bay hồn lâng lâng theo gió hương mùa say. Chiều thu ấy nhìn nhau tay nắm tay mắt hoen lệ tràn”. Được biết Lam Phương viết ca khúc này làm nhạc nền cho một vở kịch diễn kịch tại trường của mình. Nghe ca khúc mà tôi không nghĩ rằng đây là của một cậu học sinh 15 tuổi. Ca từ lãng mạn tình cảm lãng mạn bay bổng. Thế nhưng không một nhà sản xuất âm nhạc nào lại dám tin vào ca khúc của cậu học sinh nhỏ tuổi với vốn nhạc lý tầm thường. Không tìm được nhà xuất bản ông phải vay mượn tiền bạn bè để tự in. Cuối cùng tác phẩm đầu tay cũng được lưu hành nhưng hơn hai năm sau vẫn chưa trả xong khoản nợ đó. Lúc bấy giờ Chiều thu ấy chưa được phổ biến rộng rãi nhưng đó là bước đệm tuyệt vời cho con đường âm nhạc của Lam Phương.

Một thời gian khá lâu sau khi ông lên Sài Gòn mẹ và các em ông cũng lên Sài Gòn. Từ đó ông chuyển về ở với gia đình trong một con hẻm nhỏ. Con đường vào gác trọ lầy lội phòng trọ lụp xụp một chiều mưa trong khung cảnh ấy nghĩ về đời mình nghĩ về gia cảnh mình ông đau khổ thốt lên: “Đường về đêm nay vắng tanh/Rạt rào hạt mưa rớt nhanh/Lạnh lùng mưa xuyên áo tơi mưa chẳng yêu kiếp sống mong manh/Lầy lội qua muôn lối quanh/Gập ghềnh đường đê tối tăm/Ngập ngừng dừng bên mái tranh nghe trẻ thơ thức giấc bùi ngùi/Êm êm tiếng hát ngân nga ôi lời mẹ hiền ru thiết tha/Không gian tím ngắt bao la như thương đường về quá xa/Mưa ơi có thấu cho ta lòng lạnh lùng giữa đêm trường/Đời gì chẳng tình thương không yêu thương/Thương cho kiếp sống tha hương thân gầy gò gởi cho gió sương/Đôi khi muốn nói yêu ai nhưng ngại ngùng đành lãng phai…”. Đó là lời ca khúc Kiếp nghèo lúc này ông mới 17 tuổi. Kiếp nghèo được viết theo điệu Tango gây ấn tượng mạnh với đông đảo người yêu nhạc. Cũng từ đây Lam Phương chính thức đi vào con đường sáng tác thực thụ.

                                                   Nhạc sĩ Lam Phương. Ảnh: Wikipedia

Anh lính chiến giữa đôi bờ chia cắt

Năm 1958 cậu học trò nhỏ nay đã 23 tuổi Lam Phương nhập ngũ. Tâm hồn người nghệ sĩ trẻ chợt đau thắt trước cảnh đất nước chia đôi miền Nam – Bắc. Vào thời điểm này Lam Phương chững chạc hơn. Rồi một đêm sáng trăng đứng bên bờ sông này nhìn con đò còn đò xuôi dòng chia đôi miền yêu thương ông viết Con đò vĩ tuyến: “Đêm nay trăng sáng quá anh ơi /Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu/Lênh đênh trên sóng nước mông mênh/Bao đêm lạnh lẽo em chờ mong gặp bóng chàng/Vượt rừng vượt núi đến đầu làng/Đò em trong đêm thâu sẽ đưa chàng sang vĩ tuyến /… "

Thể loại nhạc mà Lam Phương đang viết vào giai đoạn này người ta gọi là “nhạc lính” từ nhạc lính thường được định hình cho một dòng nhạc bình thường kém phần bác học thanh nhã. Thế nhưng Lam Phương đã làm cho các thính giả hiểu nhạc lính với tất cả ý nghĩa của nó khi ông khoác một bộ áo mới lên âm nhạc. Những ca khúc của ông có giá trị tinh thần thẩm mĩ cao không chứa đựng những câu tuyên truyền khẩu hiệu sáo rỗng cũng không gieo vào lòng người nghe những chuyện tình thảm sầu ủy mị.

Năm 1959 Lam Phương giải ngũ ông gia nhập Đoàn Văn nghệ Bảo An. Có thể nói từ năm này cho tới giữa 1960 là thời vàng son trong âm nhạc của Lam Phương. Hàng loạt những ca khúc ra đời: Nắng đẹp miền Nam Ngày hạnh phúc Ngày tạm biệt Tình anh lính chiến…Chính những ca khúc đó đã làm nên tên tuổi Lam Phương. Khi viết tới đây tôi thiết nghĩ rằng khó có một nhạc sĩ nào được mọi người dùng nhiều bài hát của mình thay lời và phổ biến rộng rãi trong nhân gian như ông. Ta vẫn thấy quen khi nghe: “Em ơi nếu mộng không thành thì sao/Non cao đất rộng biết đâu mà tìm/Đường đời mịt mù vạn nẻo về đâu/Mong chờ duyên kiếp đưa lối bắc  cầu”…và nhớ tới một lời hát nào đó!

Giữa năm 1960 ông chuyển sang cộng tác với các đoàn kịch nổi tiếng lúc bấy giờ như Hoàng Lan Văn Phụng. Chính trong thời điểm này ông đã gặp và yêu Túy Hồng (một diễn viên kịch) họ đã thành vợ chồng cuộc đời ông mở sang một trang mới.

Vượt trùng dương không thôi sóng gió

Sau giải phóng miền Nam Việt Nam vợ chồng Lam Phương di cư sang Paris. Họ đã có những tháng năm hạnh phúc ở đây. Cuộc sống của họ đã trở nên như một kiểu mẫu cho giới Văn nghệ sĩ. Những tưởng chuỗi ngày hạnh phúc sẽ kéo dài mãi thế nhưng một ngày một ngày khiến mọi người phải giật mình và thốt lên: Có tình yêu thật không? Vì sao lại thế? Khi Lam Phương và Túy Hồng chia tay. Ông gần như mất hết tinh thần ông hối hận: “Anh đã lầm đưa em sang đây để đêm thường nghe tiếng thở dài/Thà cuộc đời yên trong lòng đất được trở về tiếng khóc ban sơ/Hơn là mang kiếp mong chờ…Con tim nào không hay đổi thay/Cuộc tình nào không lắm hận sầu/Ngọt đèn vàng lung linh hè phố/Điệu nhạc buồn văng vẳng đâu đây/Chỉ thêm làm giá lạnh đêm nay” (Lầm).

Sau một thời gian dài Lam Phương bước qua đau khổ và đi tiếp con đường mình với một người phụ nữ khác (tôi không dám nêu tên vì chưa khẳng định nguồn thông tin được cung cấp). Như ông đã giãi bày thì cuộc tình thứ hai này là cuộc tình đẹp nhất trong đời ông. Trong mười năm chung sống ít ỏi người phụ nữ này đã mang đến cho ông một luồng gió mới ấm áp yêu thương và vỗ về ông viết:
“Từ ngày có em về/Nhà mình tràn ánh trăng thề/Dòng nhạc tình đã tắt lâu/Tuôn trào ngọt ngào như dòng suối…” (Bài tango cho em).

Năm 1995 Lam Phương quay về định cư tại Hoa Kỳ. Càng về già cuộc sống Lam Phương càng thấm đẫm nỗi cô đơn giữa muôn vàn khuôn mặt ông chợt tỉnh giấc và thấy mình lẻ loi: “Sớm mai thức giấc nhìn quanh một mình/Ngoài hiên nắng lóe đàn chim giật mình/Biết lời tỏ tình đã có người nghe/Nắng xuyên qua lá hạt sương lìa cành/Đời mong manh quá kể chi chuyện mình/Nắng buồn cuộc tình bỗng tắt bình minh/Đường xưa quen lối tình dối người mang/Tình duyên trăm mối một kiếp đa đoan…”  (Một mình). Nhìn ông ta lại hiểu hơn câu nói của cha ông thuở trước “tài hoa bạc mệnh” có lẽ đúng. Tuổi thơ khốn khó cuộc đời lính chiến hiểm nguy đã không thể cướp đi thân thể ông. Thế nhưng năm 1999 một cơn tai biến xảy ra ông bị đứt mạch máu ở bán cầu não trái do biến chứng của căn bệnh tiểu đường. Lam Phương bị liệt nửa thân người.

Cách đây không lâu Trung tâm Thúy Nga có tổ chức chương trình 50 nhạc Lam Phương do Thanh Hà và Trường Kỳ thực hiện. Thấy ông bước ra sân khấu trên chiếc xe lăn giọng nói nhỏ đi và khó khăn sau đó là lời hát trong bài Duyên kiếp làm nhạc đệm: “Em ơi nếu mộng không thành thì sao/Non cao đất rộng biết đâu mà tìm…” tôi cũng như mọi khán giả đều thật sự xúc động trước khung cảnh đó.

Tôi mở đầu bằng sự bất ngờ và cũng muốn kết thúc bằng một bất ngờ khác. Chúng ta hãy bỏ qua những gì liên quan đến chính trị và các vấn đề nhạy cảm để hướng lòng mình vào nhìn nhận đánh giá một con người thật. Trong đời sống và sự cống hiến của ông tôi cho rằng Lam Phương xứng đáng là một trong những nhạc sĩ hàng đầu Việt Nam đặc biệt là trong nền Tân nhạc.

Thanh Hải

 

 

More...

Rụng rơi những mộng...

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Mình nói nay mai này bẻ bút xếp văn chương mình muốn làm thợ chụp hình đám ma đám cưới ghi lại những khoảnh khắc tận hai thái cực của cuộc đời.

Mình nói phải lần thứ mấy rồi mà vẫn còn kinh ngạc vì cái mộng tầm thường quái quỷ không biết từ đâu tới này kinh ngạc còn vì bạn bè lắm đứa không tỏ ra kinh ngạc chỉ bảo ừ thì bạn cũng ước được làm một ông gác cổng trường coi chừng cánh cửa đóng vai ông ác chơi trò rượt đuổi với tụi trẻ đá banh. Có thằng gật gù ừ tao thích có một mảnh vườn để gieo cải trồng cây. Có thằng định mở quán ăn đích thân nó vô bếp nấu (bằng những kinh nghiệm của mấy chục năm ăn nhậu).

Mà chúng nó chưa đứa nào bạc tóc hay rụng răng trên mặt chưa xuất hiện dấu hiệu của tuổi già. Tuổi mới băm mấy nhát mộng đã đìu hiu an phận.

Khát vọng vĩ cuồng xưa đâu rồi? Giấc làm thủ tướng làm phi hành gia làm người giàu nhất thế giới đâu? Giấc làm nhà báo nổi tiếng yêu dân nghèo và chiến đấu vì những người ở đáy xã hội đâu? Mình ơi giấc trở thành một tiểu thuyết gia lừng lẫy đâu để bây giờ chỉ ước mỗi chuyện tìm được ý tưởng con con viết vài mẩu nho nhỏ bán lấy tiền nuôi giấc mơ làm chị thợ ảnh vô danh.

Ảnh: Xã luận

Những giấc mơ còm cõi dần đuối dần nhẹ dần. Nếu nhà Phật vỗ tay mừng bọn trẻ bây giờ sớm chạm đến bờ không thì xã hội chắc cũng nên lo lắng kêu lên kìa tụi nó đã lụi tàn khát vọng y học báo động về hội chứng chưa trẻ đã già.

Vẽ chân dung những người quen biết đồng trang lứa với mình cực khó. Một đám người không trẻ không già đi trong mù mù không rõ thân không rõ mặt. Vài ba đứa mê ghế lượn lờ quanh rình rập mấy cái chức vụ con con. Vài ba đứa mê danh táo tác tìm cách nào lên báo. Vài ba đứa lê la mông chai bụng bự sống đời công chức. Vài ba đứa sục sạo kiếm tiền đôi khi chỉ để nuôi những cái mộng con con sống cuống cuồng để mau mau về sớm. Kiểu nào thì cũng thấy không hợp với tuổi mình.

Hôm kia có anh cười khùng khục kể mình nghe về quyển truyện khoa học viễn tưởng của Việt Nam mà anh từng đọc được trong một thư viện cũ nát về một anh chàng sáng tạo ra máy nhân hàng loạt... đùi gà. Chắc anh ta đang viết trong cơn đói meo bủng beo vì thèm thịt. Nó phản ánh cái tâm thế nhỏ nhoi tầm thường mà vài chục năm trước đã hiển hiện trong đầu người có chữ. Mình hơi giật mình thế thì nếu mình viết khoa học viễn tưởng chắc mình viết về một cái máy biến người ta thành con diều xếp xó cho đến khi nào có gió lên thì trẻ con dắt đi chơi. Một bữa nọ con diều không thể biến trở lại làm con người nữa bởi vì nó quên làm người như thế nào phải tự đi ra sao.

Một thằng nhỏ kém hơn mình chừng chục tuổi nghe ý tưởng đó phì cười. Nó hỏi sao chị không viết về cái máy khiến người ta biết ước mơ. Nó đang rầu rĩ vì không kiếm được một ước mơ làm thuốc. Năm ngoái nó mơ đi Mỹ chơi chừng một tháng nhưng giờ đi Mỹ cũng không cần thiết lắm. Năm năm trước nó ước xe hơi nhưng quyết định mua chiếc xe đạp Martin chạy rồi. Muốn mộng những giấc vĩ đại ngông cuồng để làm mục tiêu dấn bước nhưng mồi chài o ép mãi mà chính mình vẫn chối nguây nguẩy bảo em hổng chịu đâu.

Nên phía trước nhiều khi là trống rỗng...

More...

Đối thoại xoáy giáo sư Cù Trọng Xoay

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Ở "đại học" Bôn Ba ai cũng là giáo sư. Có chợ Trời bán học hàm học vị giả thì bù lại cũng có chợ Âm phủ bán thịt chó thật. Cuộc sống thì luôn công bằng và mọi thứ đều có giá của nó. - "Giáo sư" Cù Trọng Xoay.

Từ việc muối dưa thế nào cho ngon "tuyệt chiêu" đối phó với người giúp việc đến ngữ nghĩa của các câu thơ Kiều định luật vạn vật hấp dẫn và bí mật của Isaac Newton; đến vv...và..vv.. là những vấn đề mà Giáo sư Cù Trọng Xoay của chương trình Hỏi Xoáy - Đáp Xoay đã trả lời.

Trong mục Gặp gỡ & Đối thoại tuần này Tuần Việt Nam "xoáy" vị "giáo sư" khả kính này những vấn đề mang tính... cá nhân nhạy cảm.

Giáo sư thích... đê tiện

Cù Trọng Xoay hay Dũng Đê Tiện giáo sư có vẻ nhiều "hỗn danh"?

Ôi tôi còn nhiều "hỗn danh" lắm ngoài Dũng Đê tiện và Cù Trọng Xoay thì nào là Dũng Vạc Dũng Dâm tặc Dũng Điên tệ Dũng Đại tiện (rất tiện)... Tôi thấy được gọi tên nào cũng thích cả bởi khi người ta gọi tên tôi tức là họ còn nhớ đến tôi còn cần đến tôi và nếu may mắn hơn nữa thì là vì họ còn yêu quý tôi.

Tôi không có ý gì đâu nhưng thấy hơi tò mò về đạo đức lối sống của giáo sư có vấn đề gì mà những cái tên của ngài nghe có vẻ không được "lành mạnh" lắm?

Tôi cũng không biết nữa có lẽ phải hỏi những người đã gọi tôi vậy. Tôi thì cứ sống hồn nhiên như mình vốn có còn mọi người gọi sao thì mọi người cứ hồn nhiên mà gọi. Tuy nhiên tôi nhận thấy cả người gọi và người được gọi điều rất vui vẻ và tôi cũng rất đông bạn bè nữa thế là ổn.

Thế trong những cái tên đó giáo sư thích nhất cái tên nào?

Có lẽ tôi thích cái tên Dũng Đê tiện nhất cái tên này có từ khi tôi về đầu quân cho FPT và nơi đây với tôi thì như một gia đình vậy. Cái tên này nhiều người gọi lắm từ lãnh đạo đồng nghiệp cho đến các em sinh viên đều gọi tôi như thế đến mức tôi nói cái tên thật Đinh Tiến Dũng của mình ra thì nhiều người còn ngơ ngác hỏi: "Ai đấy?". 

 alt

 

"Giáo sư" Cù Trọng Xoay. Ảnh Facebook GiaosuXoay

Thế còn cái tên Cù Trọng Xoay thì sao?

 

Tôi cũng thích vì cái tên này nhiều người biết. Nhưng khi được gọi đến tôi thường nghĩ nó gắn với một công việc đang làm thêm của tôi chứ không phải tôi. Nó gợi lên những đêm thức trắng viết kịch bản trong sự thúc giục và "đàn áp" của đạo diễn gợi lên ánh đèn trường quay chói chang và ông bạn diễn Xuân Bắc tinh quái luôn làm tôi đuổi theo hụt cả hơi. Thành ra đi đường có ai gọi tên này là tôi lại hơi giật mình.

Trường đại học mới mà không mới

Trong một chương trình Hỏi Xoáy - Đáp Xoay giáo sư nói ngài đang công tác tại Trường Đại học Bôn Ba giáo sư có thể giới thiệu kỹ hơn về trường ấy không?

Thực ra ngay cái tên đã đủ nói về trường rồi. Tiêu chí của trường này là "Đâu đâu cũng là trường ai ai cũng là thầy". Tôi nghĩ không chỉ mình tôi mà rất nhiều người cũng đang công tác tại trường này như tôi không để ý thôi; hoặc họ thường gọi là Trường Đời. Lên chương trình truyền hình thì tôi "đánh bóng" thương hiệu bằng cái tên Bôn Ba cho nó có vẻ ...quốc tế.

Giáo sư là tác giả/diễn viên của nhiều clip ca nhạc ấn tượng: Lương mềm cuối năm Xăng tăng giá Thưởng của em đâu anh? Lời ru buồn cho giá ... Tôi đoán hẳn Đại học Bôn Ba phải có chuyên ngành sáng tác?

 

Đại học Bôn Ba là cuộc sống mà trong cuộc sống thì ngành sáng tác chắc phải gọi là một đại chuyên ngành luôn ấy chứ. Những sản phẩm do tôi tự sáng tác thì do có đặt hàng hoặc làm để giải trí cho cộng đồng. Còn những ca khúc tôi "chế" lại lời thì đâu có gì mới mẻ các làn điệu dân ca vẫn luôn được đặt lời mới mà.

 

"Giáo sư" Cù Trọng Xoay là một nhân vật trong mục Hỏi Xoáy - Đáp Xoay Thư giãn cuối tuần của Đài truyền hình Việt Nam với 2 nhân vật: Trần Xoáy do diễn viên Xuân Bắc và Cù Trọng Xoay do Đinh Tiến Dũng thể hiện.

Đinh Tiến Dũng tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp chuyên ngành cây trồng nhưng công việc chính của anh hiện nay là nhân viên tổ chức sự kiện của Công ty FPT. Ngoài việc đảm nhận đóng vai Cù Trọng Xoay Đinh Tiến Dũng đồng thời là người viết kịch bản cho chuyên mục.

Là một trong những người viết kịch bản Gặp nhau cuối năm những bài hát của các Táo quân rất dí dỏm và thời sự chắc chúng cũng là tác phẩm của giáo sư?

Vâng gần như phần lớn các bài trong đó do tôi chế lại. Để truyền tải một thông điệp nào đó chúng tôi có nhiều cách để thể hiện mà chúng tôi hay gọi là "trò". Riêng cái "trò" chế lại bài hát thì có vẻ khá ăn khách bởi nhìn chung đó là các giai điệu quen thuộc lời lẽ vui vẻ dễ đi vào lòng người hơn.

Ngài có ý định đăng ký bản quyền hoặc soạn một giáo trình về xu hướng sáng tác "ngẫu hứng và thời sự" này để giảng dạy tại Đại học Bôn Ba không?

Đăng ký bản quyền thì tôi chẳng bao giờ dám nghĩ tới vì nó làm cho tôi có cảm giác mình như đang "vừa ăn cắp vừa la làng" vậy. Những sản phẩm giải trí đó được làm ra để giải trí cho vui vẻ nếu ai đó lấy đi để nhân rộng hơn cái sự vui vẻ đó thì càng ... vui vẻ hơn thôi.

Còn về kỹ thuật sáng tác "ngẫu hứng và thời sự" thì đúng là có nhiều người quan tâm và hỏi tôi về vấn đề này lắm. Tôi không được ăn học về âm nhạc một cách đầy đủ và bài bản nên chưa bao giờ dám nghĩ những sản phẩm mình làm ra đó là một tác phẩm hay ca khúc càng chả bao giờ dám nghĩ nó là một điều gì đủ "tư cách" mà đem ra giảng dạy. Tuy nhiên "trò" này vui phết do đó những ai quan tâm hỏi tôi về cách thức thì tôi biết gì cũng sẽ chia sẻ bằng hết vì nó là "trò" một người nghịch nhiều người vui mà...

"Giờ cưa gái đến chơi nhà mình cứ tặng xăng. Xăng giờ cao giá lấy lòng ba má không cần hoa lá..." Chiêu thức này giáo sư đã áp dụng chưa? Có hiệu quả không?

Cái này tôi nói quá lên để "khen đểu" giá xăng cao thôi chứ chưa bao giờ "dám" làm thế. Khi không xách chai xăng đến đứng ở cửa nhà người ta miệng lại cười tươi có khi bố mẹ người ta lại tưởng mình vừa trốn viện đến trả thù cũng nên lấy lòng thế nào được.

Hay là ngài có thể phát triển ý tưởng theo hướng khác ví dụ ngoài xăng còn có thể tặng thêm rau sạch hoa quả không chất bảo quản thịt lợn không thuốc tăng trọng khẩu trang chống bụi áo phao phòng lụt... hay đơn giản như tặng ba má đôi giày bata Thượng Đình để các cụ sử dụng mỗi khi tắc đường chẳng hạn?

Nếu để chọn thứ để tặng tôi nghĩ mình sẽ tặng những nụ cười. Cuộc sống bao giờ mà chẳng có những khó khăn không khó cái này thì sẽ lại khó cái khác sống sao cho vui là được. Tôi không mải miết đuổi theo những vấn đề khó khăn đó mà kêu ca châm chọc mãi được nó sẽ biến tôi thành một kẻ hẹp hòi lắm chuyện và bất đắc chí. Tôi chỉ thích đi tìm những nụ cười đâu đó để đem tặng nhau thôi. Một trong những cách đó là hãy có cái nhìn thật vui vẻ về những khó khăn để cười vui và thêm yêu cuộc sống với bao khó khăn này.

alt

 
"Nếu đi xoáy ai đó thì tôi sẽ chỉ xoáy vào cái chỗ nào mà xoáy vào khiến họ cười vui nhất mà thôi" Ảnh Facebook GiaosuXoay

Giá học hàm Giáo sư Cù Trọng Xoay mà bán được...

Xin lỗi giáo sư ai cũng nói ngài còn khá trẻ với học hàm này liệu Đại học Bôn Ba có nhầm lẫn nào không đặc biệt trong thời buổi này học hàm học vị thật giả lẫn lộn giáo sư - tiến sĩ nhiều như sao trên trời đặc biệt những nơi gần... chợ Trời?

Ở "đại học" Bôn Ba ai cũng là giáo sư. Khái niệm thật giả chỉ có khi chúng ta có những chuẩn mực hay quy định nào đó để đánh giá cho một vấn đề đôi khi ở chuẩn mực này là thật nhưng ở chuẩn mực kia lại là giả. Còn ở "đại học" Bôn Ba chúng tôi có tiêu chí "ai ai cũng là thầy" cho nên khi ai đó đúng thật là chính mình thì họ đều là một giáo sư thật sự của "chuyên ngành" cuộc đời họ. Chiếu theo tiêu chí này của chúng tôi thì có khi trẻ con mới chính là những "giáo sư" thật nhất mà vậy thì tôi lại thấy mình hơi già ấy chứ.

Việc bán bán mua mua có chợ Trời bán học hàm học vị giả thì bù lại cũng có chợ Âm phủ bán thịt chó thật. Thật giả tuy lẫn lộn nhưng cuộc sống thì lại luôn rất công bằng và mọi thứ đều có giá của nó.

Sao Gặp nhau cuối năm không thấy đưa "chợ giao dịch học hàm học vị" vào kịch bản nhỉ liệu có phải ngài sợ họ bán nhầm luôn học hàm của Giáo sư Cù Trọng Xoay không?

Gặp nhau cuối năm là một sản phẩm mang tính trí tuệ tập thể do đó đưa vấn đề gì vào thì chúng tôi cũng đều cân nhắc bàn bạc kỹ lưỡng chọn những cái cần kíp và bức xúc hoặc ấn tượng nhất chứ nếu cái gì cũng đưa vào thì thứ nhất là không đủ thời gian và thứ hai là khó mà hay được. Có thể năm sau hoặc sau nữa sẽ có vấn đề này thì sao.

Còn cái học hàm của nhân vật Giáo sư Cù Trọng Xoay mà bán được thì tôi hạnh phúc quá khi việc tôi làm ít ra cũng ... có chút giá trị.

Xin tò mò một chút giáo sư ngại bị "xoáy" vấn đề gì nhất? và nếu được "xoáy" ai đó ngài hay thích xoáy chuyện gì?

Tôi gần như chẳng ngại bất kỳ vấn đề gì trừ mỗi vấn đề khán giả trách móc sao không thấy trả lời vì thú thực là công việc chuyên môn của tôi tại FPT cũng bận rộn và tôi phải ưu tiên hoàn thành sau đó mới đến cái việc "làm thêm" là một Giáo sư Xoay đi trả lời các câu hỏi. Thành ra tôi không quan tâm hết được. Nhân đây cũng mong quý vị khán giả thông cảm cho. Còn nếu đi xoáy ai đó thì tôi sẽ chỉ xoáy vào cái chỗ nào mà xoáy vào khiến họ cười vui nhất mà thôi.

Xin cảm ơn giáo sư!

More...

Văn Cao vẫn “cứ bay”!

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

“Trong âm nhạc Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư…”.

Đó là lời nhận xét của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn khi nói về âm nhạc của Văn Cao. Trong giới nghệ thuật của Việt Nam nói chung Văn Cao là một nghệ sĩ hiếm hoi mà bước lãng du ở lĩnh vực nào cũng để lại dấu ấn sâu đậm từ thơ ca đến nhạc họa. Nhưng với tôi ca khúc là lĩnh vực ông thành công hơn cả.

Theo bước Văn Cao

Văn Cao sinh ngày 15 tháng 11 năm 1923 tại Lạch Tray Hải Phòng (quê gốc ở Vụ Bản Nam Định) trong một gia đình nghèo mới học tới lớp 7 thì phải nghỉ học sau đó xin làm việc tại Sở bưu điện. Từ nhỏ ông đã bộc lộ rõ khả năng âm nhạc của mình người thầy dạy nhạc muốn phát huy năng khiếu thiên phú của cậu học trò nhỏ đã gửi Văn Cao vào trường dòng Bonnal để học nhạc. Văn Cao bắt đầu sáng tác nhạc từ thời điểm đó.

Vào năm 1939 (lúc đó ông mới 16 tuổi) đã có sáng tác đầu tay “Buồn Tàn Thu” với những ca từ rất lãng mạn rất mượt mà: “Nhờ bóng chim uyên/ Nhờ gió đưa duyên/ Chim với gió bay về/ Chàng quên hết lời thề…” ca khúc ấy đã làm chấn động mạnh tới công chúng yêu nghệ thuật ở Hải Phòng và thủ đô Hà Nội lúc bấy giờ. Sau đó một năm bản nhạc thứ hai “Thiên Thai” ra đời. Bản Thiên Thai là một giấc mơ của người nghệ sĩ vào chốn an bình mà người Việt khó đạt được trong hoàn cảnh đất nước bị đô hộ. Nhạc điệu bài hát như khiến ta lạc vào một mơ ngoan dìu ta đến với cõi thần tiên xa thẳm thư thái dịu dàng như đang sống giữa chốn bồng lai.

Năm 1941 ông gặp Phạm Duy nghe lời khuyên của Phạm Duy Văn Cao rời Hải Phòng lên Hà Nội ông thuê một căn gác nhỏ số 171 phố Mongrant (nay là 45 Nguyễn Thượng Hiền) và theo học dự thính tại trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương . Trong khoảng thời gian này ông sáng tác nhiều nhạc phẩm danh tiếng như “Trương Chi” “Thu cô liêu” “Bến Xuân” “Suối Mơ”. Chàng Trương Chi gõ mạn thuyền mà ca vào một thời lãng mạn xa xưa những lời thiết tha bay bổng. Đã qua rồi những Thu cô liêu ta lại dìu em về Bến xuân trong trẻo ngọt ngào em dùng dằng như vừa muốn đi vừa muốn ở ở lại với xuân tươi hay về cùng anh nơi có những Suối mơ?


Nhạc sì văn Cao. Ảnh: IT


Không những có năng khiếu âm nhạc Văn Cao còn có năng khiếu hội họa. Ông đã tham gia cuộc triển lãm Salon Unique tại Hà Nội ở Nhà Khai Trí Tiến Đức cùng với các danh họa như Tô Ngọc Vân Lương Xuân Nhị Nguyễn Tiến Chung Lưu Văn Sìn vào năm 1944 với 3 bức sơn dầu Cô gái dậy thì Thái Hà ấp đêm mưa và Cuộc khiêu vũ của những người tự tử (Le Bal aux suicidés) đã gây sự chú ý cho giới mỹ thuật về bút pháp và màu sắc. Thế nhưng thật tiếc vì những tác phẩm hội họa của Văn Cao không được lưu hành và phổ biến rộng rãi.

Là một người có lòng yêu nước khi thấy trước mắt mình Tổ Quốc đang bị thực dân Pháp đô hộ lòng lại càng sôi sục căm thù. Văn Cao đã theo Việt Minh dưới sự hướng dẫn và tuyên truyền của anh Vũ Quí. Cùng thời điểm đó Vũ Quí đã nhờ Văn Cao soạn một bản nhạc quân hành cho trường quân sự Việt Minh Văn Cao đã viết “Tiến Quân Ca” giai điệu Tiến Quân ca rập ràng dứt khoát thể hiện được cái hùng khí trên mỗi bước chân của người lính: “Đoàn quân Việt Nam đi/Chung lòng cứu quốc/Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa/Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước/…”.

Trong cuộc biểu tình cướp chính quyền của Việt Minh ngày 19-8-1945 tại Hà Nội Văn Cao đánh nhịp cho đoàn Thanh Niên Xung Phong hát bài "Tiến Quân ca" của ông trước nhà hát lớn. Sau đó một năm Tiến Quân ca được Quốc hội khóa I (năm 1946) công nhận là quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đó là một vinh dự lớn bởi không phải nhạc sĩ nào cũng được dân tộc tôn vinh và lấy một bài hát của mình làm quốc ca.

Sau Tiến quân ca một loạt ca khúc cách mạng ra đời: Công nhân Việt Nam Ca ngợi Hồ Chủ tịch Tiến về Hà Nội Bắc Sơn và đặc biệt Trường ca sông Lô… là những hùng ca nhưng vẫn mang phong cách thư thái đỉnh đạc mà dung dị của tâm hồn người Việt Nam. Năm 1949 ông được lệnh viết bản Lãnh tụ ca nhưng bản này ít được nhắc đến (kể cả phía Cộng Sản).

Năm 1954 khi chiến tranh đang vào thời điểm khốc liệt thay vì viết về đề tài Điện Biên Phủ như các văn công Cộng sản khác vẫn thường viết Văn Cao lại bày tỏ ý tưởng của ông qua một bức tranh sơn dầu lập thể. Bức tranh đó có thể được mô tả như sau: Một cậu bé thổi sáo bằng 2 cái mồm một cái được vẽ từ góc độ thẳng và 1 cái được vẽ từ góc độ nghiêng. Đằng sau cậu bé đông nghịt những con người đang trong 1 tiết tấu chuyển động của nhịp chiến tranh. Nhiều nhà phê bình đã cố tìm ra lời giải cho ý nghĩa của bức tranh có người nói: "Bức tranh vẽ đứa trẻ với hai cái mồm chắc là hàm ý Đảng Cộng Sản Đông Dương có hai miệng? " người khác lại đùa: “Đứa trẻ đó là chính Văn Cao!”. Thế nhưng ý nghĩa thật của bức tranh chỉ có chủ nhân của nó mới biết được.

Kể từ sau hiệp định Gieneve năm 1955 Văn Cao dường như vắng bóng có chăng là một vài bài thơ và ta nhận thấy ở đó lời thơ của Văn Cao rất buồn và chán nản. Đặc biệt từ sau vụ Nhân Văn – Giai Phẩm ông đã “ẩn mình” sống âm thầm bằng đủ thứ nghề như viết nhạc không lời cho các truyện phim và truyện kịch trang trí sân khấu cho các đoàn kịch và vẽ quảng cáo cho các báo.

Dù rất ít viết thế nhưng về cuối cuộc đời người nghệ sĩ tài hoa này cũng cho ra một bản nhạc vào cuối năm 1975 đó là bài “Mùa xuân đầu tiên” Mùa xuân đầu tiên như báo trước những giá trị nhân bản mà sau cuộc kháng chiến trường kỳ thắng lợi chúng ta cần vươn đến một bài hát rất nhẹ nhàng êm dịu thắm thiết tình người Thế nhưng bản nhạc này cũng bị phê bình là không đi đúng đường lối của Đảng không phục vụ cho Cách Mạng vì thế bản nhạc mới phát hành đã bị tịch thu. Tuy thế các chương trình Việt Ngữ tại Moscow vẫn cho trình bày bài hát nên bài hát đã không bị vào lãng quên. “Mùa xuân mơ ước ấy đã đến đầu tiên với khói bay trên sông gà đang gáy trưa bên sông một trưa nắng cho bao tâm hồn.” . Mỗi khi cất lời bài hát này lên dường như ta vẫn thấy Văn Cao đang reo vui tung tẩy trước mùa xuân tự do.

Đôi lời cảm nhận

Nhận xét về hội họa Văn Cao nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân viết: “Ở Văn Cao tiếng vọng hoài niệm như một vẻ đẹp có thẩm mỹ siêu thực theo tôi là một ẩn hiện di truyền lác đác trong cả cuộc đời nghệ sĩ đẹp đẽ của anh. Nhưng cái nhìn hội họa ở anh có địa vị dẫn đường và chi phối: chính Văn Cao và vài ba người nữa (Bùi Xuân Phái Sỹ Ngọc Dương Bích Liên Nguyễn Sáng…) vào những năm 60 đã mở hướng thẩm mỹ mới cho minh họa và đồ họa. Có thể nói Văn Cao đã lập được một trường phái minh họa vẽ bìa sách. Nhiều minh họa của anh trên báo Văn Nghệ phải gọi là xuất sắc. Nếu âm nhạc thơ ca là một bản thể tươi tốt của anh thì hội họa là một tâm thức sâu sắc. Văn Cao có cái nhạy bén về cảm xúc tinh tường trong quan sát”.

Rồi người nghệ sĩ đa tài trải qua bao thăng trầm cũng đến lúc dừng bước lãng du. Tháng 7 năm 1995 ông đã vĩnh viễn ra đi trong niềm tiếc thương của người yêu nhạc cả nước. Trước sau ông vẫn là một nhân cách lớn không a dua chạy theo thời thế. Trong lời vĩnh biệt người nghệ sĩ đa tài Văn Cao nhạc sĩ Thế Bảo đã viết: “Thơ với họa đã theo suốt hành trình âm nhạc hơn nửa thế kỷ vỗ về an ủi ông chia sẻ những cảm xúc đầy ắp tâm hồn nghệ sĩ mà đôi lúc âm thanh dường như phải nhường bước cho ngôn từ và màu sắc”.

Vậy là Văn Cao đã yên nghỉ ở cõi vĩnh hằng. Mọi vui buồn được mất của đời nghệ sĩ cũng đã lắng dịu đi đủ để mọi người bình tâm phác thảo một chân dung thơ – nhạc – họa Văn Cao. Ông đã đến với chúng ta sống giữa chúng ta rồi rời xa chúng ta và để lại những Buồn tàn thu Thiên Thai Trương Chi Suối mơ Mùa xuân đầu tiên Trường ca sông Lô… như những bó hoa tươi thắm dâng tặng cho đời cho người mà ông đã ròng rã miệt mài lao động trong hơn nửa thế kỷ qua.

Thanh Hải.

More...

Đưa “phân” lên giời mà kiện!

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Trong mấy năm gần đây phân bón giả đã “tràn ngập” thị trường khiến nhiều bà con nông dân phải điêu đứng. Mặc dù “phân giả” nhưng “tiền thật” nên nó vẫn cứ hoành hành không dập tắt được. Phân giả - nói nhiều quá rồi giờ chẳng hơi sức đâu mà nói nữa. Thế nhưng tôi lại muốn nói thêm vì không thể làm ngơ khi thấy cảnh bà con ở xã Tân Văn Tân Hà Lâm Hà (Lâm Đồng) chạy ngược chạy xuôi dở sống dở chết vì phân giả mà các cơ quan có thẩm quyền lại “ngủ quên”.

Chuyện bắt đầu từ ông Bí thư

Vào ngày 26/1/2008 ông Nguyễn Đức Minh sinh năm 1956 thường trú tại xã Tân Văn Tân Hà (Lâm Hà) đã có ký hợp đồng với ông Lăng Văn Niệp về việc mua phân bón (trả sau) NPK hàm lượng 16-16-8 của Công ty TNHH Thiên Phúc – Bình Dương với khối lượng 51050 kg giá thỏa thuận là 6.500đ/kg cho 22 hộ dân trong thôn Hà Tân (họ chủ yếu là người dân tộc ít người). Theo hợp đồng đến cuối tháng 12 năm 2008 ông Minh phải thanh toán đủ 331.825.000đ cho ông Lăng Văn Niệp.

Nhận được phân bà con Tân Văn vô cùng vui mừng (vì chưa đến mùa nên không có tiền cũng may mà có ông Bí thư “dễ tính” nên cho mua nợ!). Số phân đó được chia cho 22 hộ dân và bón đều theo nhu cầu riêng của từng hộ. Tưởng rằng hứa hẹn một vụ thu hoạch đạt năng suất cao. Thế nhưng sau một thời gian cho cây “ăn” phân Thiên Phúc thì cây “không ưa”. Bà con hốt hoảng khi thấy vườn cà phê mình bị úa lá thối quả và chết trắng hàng loạt. Trước tình hình đó ông Nguyễn Đức Minh nghi ngờ là phân bón có vấn đề nên đã trực tiếp gặp và trao đổi với ông Lăng Văn Niệp về hiện tượng trên. Ông Niệp làm ngơ.

Tiền “thật” nhưng phân “giả”!

Đang chới với trước hoàn cảnh ông Lăng Niệp lại đến nhà đòi ông Nguyễn Đức Minh phải hoàn trả số tiền trên. Bà con vô cùng bất bình nên đã đem mẫu phân Thiên Phúc đi thử nghiệm. Kết quả thử nghiệm tại Trung tâm ứng dụng KHCN & Tin học Lâm Đồng ngày 26/09/2008 có được là NPK 6 9-0 5-3 5. Trong khi hàm lượng NPK ghi trên bao bì là 16-16-8. Để chắc chắn hơn bà con đã đem mẫu phân này đi thử nghiệm nhiều nơi và đều cho kết quả tương tự. Hàm lượng NPK của phân quá thấp so với chỉ số trên bao bì đã ghi (hơn nữa trong phân đó có yếu tố kích thích sâu bệnh nên khi bón vào thì sâu bệnh phá càng nhiều hơn). Như vậy chúng ta có thể khẳng định việc ông Lăng Văn Niệp đưa phân bón kém chất lượng (phân giả) về bán cho bà con xã Tân Văn là đúng sự thật.

Trong lúc bà con đang sống dở chết dở với phân giả. Ông Lăng Văn Niệp đã tống đơn kiện lên Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đòi bà con Tân Văn phải thanh toán số tiền theo hợp đồng. Mua nhằm phân giả lại phải hầu tòa. Bà con đã cùng nhau viết đơn tố cáo ông Lăng Văn Niệp về việc kinh doanh phân bón giả gây thiệt hại cho người dân gửi đến Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Lâm Đồng cùng với đơn kháng cáo trình lên Tòa án nhân dân huyện. Trong đơn tố cáo có đoạn viết: “qua sự việc trên nhân dân chúng tôi vô cùng bức xúc đã nghèo hèn thấp cổ bé họng lại bị kẻ gian lừa gạt trắng trợn thiệt đơn thiệt kép. Hàng trăm hecta cà phê bị thiệt hại do phân bón giả nếu muốn phục hồi lại phải mất hai ba năm trời. Thử hỏi trong hai ba năm không có thu hoạch thì cơm áo học hành chữa bệnh…của mấy trăm người dân chúng tôi trông chờ vào đâu? Liệu có tránh khỏi nợ nần chồng chất hay không? Những thiệt hại này mong các cấp lãnh đạo hiểu cho chúng tôi…?”.

Lãnh đạo có hiểu nhưng “bó tay”!

Sau khi nhận đơn thư tố cáo ngày 13/08/2009 Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã mở phiên tòa xét xử về việc “tranh chấp hợp đồng dân sự mua bán tài sản” giữa nguyên đơn là ông Trần Văn Thọ (ông Niệp không thích “ra mặt” nên chuyển giao hợp đồng này lại cho ông Thọ - trưởng thôn Tân Văn) và bị đơn ông Nguyễn Đức Minh. Kết quả phiên tòa này là chấp nhận khởi kiện của ông “Niệp-Thọ” và buộc ông Minh phải hoàn trả số tiền như đã hợp đồng trên. Phiên tòa kết thúc bà con đến xem cùng với ông Minh vô cùng ấm ức ra về. Sau đó 21 hộ dân đã liên tục gửi đơn lên các cơ quan Ban nghành có thẩm quyền mong làm rõ lại sự việc. Thế nhưng cơ quan này lại đẩy sang Ban kia Ban kia lại đưa tới nghành nọ cứ “đùn đẩy” nhau không chịu xem xét. Chúng tôi đến bà con Tân văn đã tiếp xúc và trình bày lại toàn bộ sự việc. Có nhiều người vẫn còn hi vọng vụ việc này sẽ được làm sáng tỏ. Có người thì thở dài: “ối giời ơi! Có mang phân tới giời mà kiện!”. Chào ra về vài người trong số đó vẫn không quên nói nhỏ vào tai chúng tôi: “các chú phải cẩn thận đó mấy nhà báo trước đến đây đã bị chúng đuổi đánh rồi. Hay là để tôi kêu mấy người dẫn chú ra ngoài đường lớn rồi về cho an tâm!”.

Thanh Hải.

More...

Nhạc sĩ TRỊNH với thành phố sương mù

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Có thể nói Trịnh nhạc sĩ và Đà Lạt rất “có duyên” với nhau chốn này đã khơi nguồn cảm hứng cho ông trong nhiều ca khúc. Từ những ca khúc ấy vang lên lời tình thật thiết tha đằm thắm. Đó cũng chính là kết quả của sự giao hòa giữa tâm hồn người nghệ sĩ và xứ sương mù huyền ảo mộng mơ.

Đà Lạt – nguồn cảm hứng dạt dào của nhạc sĩ Trịnh

Đầu năm 1987 đoàn Nhạc sĩ (NS) TP HCM lên thăm Đà Lạt theo lời mời của Hội Liên hiệp phụ nữ Lâm Đồng. Trong đợt ấy có NS Trịnh Công Sơn cùng lên với nhiều NS tên tuổi khác như Hoàng Hiệp Phạm Trọng Cầu Miên Đức Thắng Trần Long Ẩn.

Sau những buổi sinh hoạt văn nghệ các NS và văn nghệ sĩ ở Lâm Đồng lại ngồi nhâm nhi với nhau. Có lần một văn nghệ sĩ ở xứ sương mù mới hỏi NS Trịnh Công Sơn: “Đà Lạt là nguồn cảm hứng của anh trong bao nhiêu ca khúc?”. Lúc đó Trịnh mỉm cười: “Tôi nhớ không chính xác!”. Có thể NS Trịnh Công Sơn không nhớ thật nhưng biết đâu lại đúng như NS Mạnh Đạt (hội viên Hội NS Việt Nam hội viên Hội VHNT tỉnh Lâm Đồng bạn khá thân của Trịnh Công Sơn) vẫn thường nói: “Sơn nó kín tiếng lắm”.

Trong chuyến thăm Đà Lạt năm đó Hội Liên hiệp phụ nữ Lâm Đồng có tổ chức cho các NS TP HCM và Đà Lạt đi thực tế sáng tác tại một vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Di Linh. Đến nơi các NS rất vui khi thấy người K ho nhảy múa và hát. Sau mấy cần rượu NS Trịnh Công Sơn cũng nhảy múa và hát theo “em là hoa hồng nhỏ” và mời các cô sơn nữ chụp ảnh chung. Các cô cười rúc rích và cùng nói “Ơ bai! Ơ bai!” (ơ bai có nghĩa là: không chịu đâu!). Chính trong những giây phút đó đã gợi cảm hứng cho NS Trịnh Công Sơn viết thành ca khúc “Tình khúc ơ bai). Đoạn dạo đầu của ca khúc này có lời hát: “Em đi bằng nhịp điệu/Một hai ba bốn năm/Tôi đi bằng nhịp điệu/Sáu bảy tám chín mười/. Và cuối ca khúc: “Làm sao quên được/Làm sao quên được nhau/Ơ bai i a/Ơ bai i a/Ơ bai i a”.

Sau khi tốt nghiệp khóa I thường xuyên trường Sư phạm Qui nhơn NS Trịnh được bổ nhiệm lên B lao (Bảo Lộc) làm một thầy giáo tiểu học. Học sinh chủ yếu là con em dân tộc ít người một lớp chỉ có vài chục em lớp học thì rách trước rách sau không có cửa. Nhiều lúc mây mù tràn cả vào trong lớp thầy và trò cũng lảng đãng theo mây. Nhiều ý nhạc khởi dậy trong lòng ông trưởng giáo Trịnh: “Bụi về với mây. Người còn đó gieo hạt lúa trên ruộng đất nầy” (Phúc Âm Buồn 1965).

Nhạc sĩ Trình Công Sơn. Ành: Internet

Nói về B lao nhà báo nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân đã khẳng định: “Đây chính là nơi ra đời của “Tuổi đá buồn”. Trịnh Công Sơn lấy cảm hứng từ tiếng chuông nhà thờ với hình ảnh cô gái tên Ngà hằng ngày vẫn đi lễ về qua cửa sổ phòng nơi NS Trịnh Công Sơn đang trọ. Ngà không sắc sảo không quý phái như các cô gái Huế đã “hớp hồn” anh như Ph Th Bích Diễm…nhưng với cái dáng mảnh mai tóc thề chấm vai khuôn mặt thánh thiện như mặt Đức Mẹ Đồng Trinh của cô cũng đã làm cho Trịnh Công Sơn nhiều đêm mất ngủ. Sự phát hiện trong cõi cô đơn ở Blao có Ngà như một cái nhấn làm bật dậy những dồn nén cô đơn mang tính tâm linh trong Sơn lâu nay”. Anh viết: “Từng ngón tay buồn/Em mang em mang/Đi vào giáo đường/Ngày chủ nhật buồn/Còn ai còn ai/Đóa hoa hồng cài trên tóc mây/Ôi đường phố dài/Lời ru miệt mài/ngàn năm ngàn năm/Ru em nồng nàn/ru em nồng nàn” (Tuổi đá buồn).

Còn trong video “Ru tình” chính Trịnh nhạc sĩ cũng đã thổ lộ: “Tôi trở lại thành phố Đà Lạt sau mười năm xa cách. Nhìn cây cầu bắc ngang hồ Xuân Hương tôi chợt thấy bóng dáng người phụ nữ ấy hiện về nhưng giờ đã đi xa. Tôi đã mất người mình yêu. Và dĩ nhiên dòng sông chảy dưới chân cầu cũng đã qua đời trôi theo những kỷ niệm đẹp”. Và cũng từ đó giai điệu của “Có một dòng sông đã qua đời” được cất lên trong trái tim tràn ngập những yêu thương của NS Trịnh: “Mười năm xưa đứng bên bờ cầu/Có người lòng như nắng qua đèo/Nhìn nhau ôi cũng như mọi người/Có một dòng sông đã qua đời”.

Và còn đây nữa một người phụ nữ có đôi khoen tai to và mái tóc dài đang đi ngang qua Đồi cù (Đà Lạt) vào một buổi chiều thật đẹp. NS Trịnh chợt thấy người phụ nữ ấy và hình ảnh của cô cứ “bám riết” trong đầu ông. Sau đó ít lâu “Như cánh vạc bay” ra đời: “Gió sẽ mừng vì tóc em bay/Cho mây hờn ngủ quên trên vai/Vai em gầy guộc nhỏ/Như cánh vạc về chốn xa xăm”.

Trịnh yêu Đà Lạt – Đà Lạt còn yêu Trịnh hơn thế!

Ngoài cuộc gặp gỡ định mệnh giữa ông với ca sĩ Khánh Ly đã từng làm nên tên tuổi Trịnh Công Sơn nơi thành phố sương mù này khi nhắc đến Trịnh nhạc sĩ người Đà Lạt còn nghĩ tới “Cà phê Tùng và nhạc Trịnh”. Quán cà phê Tùng nằm nép bên một con phố hẹp ở khu Hòa Bình nơi đây hằng ngày vẫn có biết bao nhiêu lượt khách ra vào. Ông Tùng – chủ quán cà phê luôn ưu ái dành riêng cho NS Trịnh một góc riêng nơi mà NS vẫn thường ngồi. Mỗi lần Trịnh ghé quán thì chỉ có nhạc Trịnh được phát ra từ chiếc máy đĩa củ kỹ thôi. Trịnh Công Sơn vẫn thường lui tới nơi đây và ngồi hàng giờ để nghe những bản nhạc của chính mình nghe tiếng hát cất lên từ trái tim đứa con đẻ. Đến bây giờ góc mà năm xưa Trịnh thường ngồi vẫn được người kế nghiệp ông Tùng giữ gìn và trân trọng nó.

Một nhân vật nữa rất đáng được nhắc tới khi nói đến Trịnh Công Sơn là lương y Huỳnh Tấn Đó (Phòng Chẩn trị đông y số 1 Phan Đình Phùng – Đà Lạt nay ông đã mất). Năm ấy khi Trịnh Công Sơn về với cát bụi ông Huỳnh Tấn Đó đã làm một công việc mà có lẽ ít người nghĩ ra: Ông đã sưu tầm tất cả những bài viết về Trịnh Công Sơn với nhiều thể loại khác nhau và đóng thành tập. Tập 1 dày khoảng 500 trang ra mắt đúng dịp 49 ngày mất của Trịnh Công Sơn. Sau 49 ngày nữa ông cho ra mắt luôn tập 2. Ông rất yêu Trịnh và thích nghe những nhạc phẩm của Trịnh viết ông tâm sự: “Tôi đã nhiều lần gặp Trịnh và chữa bệnh cho ông ấy. Trịnh yêu Đà Lạt. Tôi yêu Trịnh. Hai tập bản thảo những bài viết về Trịnh mà tôi sưu tầm được và cho ra mắt như là một nén tâm nhang”.

Ngoài chuyện ông Huỳnh Tấn Đó đã yêu Trịnh bằng một cách rất “lạ” ấy còn có một người nữa cũng yêu Trịnh không kém anh đã tự nhận mình là một “xoàng sỹ” trong giới văn nghệ ở xứ sương mù này nhưng cách làm của anh thì không giống ai: “Quán “Văn nghệ” do Yến Phương làm chủ chỉ hát mỗi nhạc Trịnh”. Vốn là nhân viên của Sở VHTT TP HCM nhưng Yến Phương đã “chạy trốn” khỏi nơi đô thị ồn ào ấy mà đi tìm một nơi khác yên bình hơn. Đà Lạt là điểm đến nơi anh có thể thỏa thích chơi nhạc Trịnh. “Đến với “Văn nghệ” ai cũng được quyền hát nghe và cảm nhận những giai điệu của Trịnh Công Sơn và nên chỉ của Trịnh Công Sơn mà thôi” – chủ quán thường nhắc nhở khách hàng của mình vào những buổi tối cuối tuần như thế. Có lần NS Mạnh Đạt tâm sự: “Người ta bảo Trịnh Công Sơn uống nhiều nhưng tôi thì không nghĩ thế. Những lần ngồi với nhau tôi chỉ thấy anh ấy “ngửi” rượu là chính. Anh ngửi và cứ thế bật lên tiếng lòng của mình trong từng ca khúc. Và điều đặc biệt dẫu không sống nhiều ở thành phố này nhưng trong NS Trịnh Công Sơn dường như thấm đẫm chất Đà Lạt trầm lắng thanh tịnh yên bình để viết để yêu…”.

Thanh Hải.

More...

Bảo Ninh: Công chức mẫn cán trong cõi mộng

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha



Tác giả: Hoàng Hường
Nguồn: Tuần Việt Nam


Người ta tin Bảo Ninh sẽ lại viết sách về chiến tranh. Đó mới chính là miền sáng tác luôn bảng lảng trong suốt cuộc đời ông. Nỗi buồn chiến tranh đã "vắt" biết bao nỗi đau "chiết xuất" ra những câu chữ u uẩn nhưng vẫn chưa hết.

Chương I: Người nổi tiếng

Với nhiều người thuộc thế hệ 7 8 9X trong một thế giới số bận rộn với những ngôi sao nổi tiếng chỉ qua một đêm giữa cuộc sống ào ạt náo nhiệt của thế kỷ 21. Bảo Ninh có lẽ sẽ là một cái tên xa lạ với những người đương thời vốn đã có quá ít thời gian cho văn chương sách vở.

Thế nhưng bỗng một ngày tên Bảo Ninh trở nên đặc biệt "hot khi cuốn tiểu thuyết duy nhất trong sự nghiệp văn chương của ông được "làm phim Hollywood" khiến sau này ông phải ra sức thanh minh "không phải Hollywood mà là một nhóm làm phim độc lập".

Nhưng có hề gì miễn rằng ekip làm phim đó là những người đến từ quốc gia giàu mạnh nhất thế giới. Độc giả bỗng chợt nhớ ra rằng văn chương Việt Nam đã từng có một Thân phận tình yêu đoạt giải thưởng của Hội nhà văn và khi cuốn sách được trả lại tên nguyên bản Nỗi buồn chiến tranh đã được dịch ra mười mấy ngôn ngữ nhiều lần được những tờ báo danh tiếng nhất thế giới đề cập.

Văn đàn Việt bỗng nhớ ra rằng đã có lúc họ từng xôn xao tranh cãi về khả năng đoạt giải Nobel của Bảo Ninh và nhớ ra một nhà văn Bảo Ninh được coi là người cóp nhặt đầy đủ nhất tỉ mỉ nhất công phu nhất những nỗi đau từ chiến tranh mà những người cùng thế hệ ông ở hai chiến tuyến đã trải qua và cảm nhận. Chính họ dù muốn hay không cũng phải thừa nhận rằng Bảo Ninh đã làm việc mà họ đã không thể không dám làm khi lưu giữ phơi bày những góc khác với những gì vốn đã được tung hô đã quen thuộc.

Họ vừa nể vừa phục vừa nghi ngại Bảo Ninh; vừa muốn đưa tay ra vừa muốn rụt lại với những dòng chữ đắng đót tê tái. Thân phận cuốn sách và tác giả của nó lúc được tung hô lúc lại bắt buộc phải ẩn đi lánh đi náu mình bằng một cái tên khác để tồn tại. Cho đến một ngày người ta vượt qua được những rụt rè thời đại để trả lại vị trí đích thực của nó.

Và rồi một ngày nó bỗng được săn lùng ráo riết bởi "được làm phim Hollywood".

Không chỉ những độc giả trung thành của văn chương ngay cả những người chưa từng nghĩ tới đọc tiểu thuyết đặc biệt một cuốn sách nặng nề như Nỗi buồn chiến tranh bỗng cũng nháo nhào tìm đọc đôi khi chỉ vì một hy vọng mơ hồ về cuộc tuyển vai cho "phim Hollywood". Một cơn sốt mang tên Bảo Ninh bỗng chốc rầm rộ.

Bảo Ninh ở đâu lúc đó? Ông ngồi lỳ trong nhà không nghe điện thoại từ chối mọi lời mời gọi phỏng vấn sôi sục của các nhà báo sẵn sàng làm nản lòng bất cứ người nào "muốn gặp tận mắt nhà văn có tác phẩm được người Mỹ làm phim".

Như con ốc rụt đầu vào vỏ không phát ngôn không chia sẻ dường như là cách sống vốn dĩ của Bảo Ninh không dễ bề thay đổi nay lại càng khó khăn hơn cho ông để đóng vai người nổi tiếng .

Rồi cũng chính ông được cho là nguyên nhân khiến những sục sôi những hy vọng của vô số nhà làm phim và cánh trẻ Việt khi đột ngột tuyên bố chia tay khiến dự án làm phim bị bỏ dở. Từ săn đón ngưỡng mộ dư luận lại hướng sang Bảo Ninh sự bực bội giận dữ như thể ông đã cướp đi cơ hội của họ.

Bảo Ninh lại mất tăm im lặng giữa mọi trách móc tò mò như thể con cá ngóc đầu lên mặt nước đớp không khí rồi ắng lặng.

 

Nhà văn Bảo Ninh Ảnh TTVH

Chương II: Cõi mộng

Dưới mặt nước ấy con cá Bảo Ninh vẫn đang tỉ mẩn đóng vai một công chức mẫn cán sáng mang cặp đi chiều mang ô về ở một tờ báo của giới văn chương vẫn giữ nguyên phong cách làm việc ở thế kỷ trước.

Có vẻ như vai diễn đó khá hợp với Bảo Ninh lừ đừ đến lừ đừ đi lừ đừ nhìn cuộc đời trôi qua ô cửa.

Hỏi: cuộc sống hiện nay của ông thế nào? Cũng được

Ông thấy đời sống văn chương bây giờ ra sao có tác phẩm nào ông đặc biệt chú ý không? Cũng tàm tạm.

Đi đi về về ở một cơ quan ngắc ngoải thu nhập có đủ cho ông chu cấp gia đình? Cũng không tệ.

Bao giờ cuốn sách thứ hai của ông ra đời? Cũng chưa biết lúc nào.

Thật ra Bảo Ninh hoàn toàn có quyền năng động như bao con người hợp thời hiện nay. Nhân dịp phim Hollywood ông phải tích cực gặp nhà báo phát ngôn hùng hồn đưa ra những quan điểm ấn tượng kế hoạch làm việc quan trọng điện thoại luôn mở đầy bận rộn. Comple + cavat xênh xang ở sự kiện này kia bắt tay vỗ vai hồ hởi... như cách người ta đang tích cực làm.

Bởi vì rất có thể dù chẳng có cái phim Hollywood nào ra đời từ tiểu thuyết của ông thì những lời mời từ các hãng phim hãng truyền thông công ty này khác... vẫn có thể chạy ùn ùn đến như những tình huống thường thấy hiện nay.

Nhưng nếu vậy đã thành một Bảo Ninh khác. Bảo Ninh này không thuộc nhóm đó. Ông sợ ông ngại ông chạy trốn nương náu trong vỏ ốc quen thuộc.

Các câu chuyện của ông lúc nào cũng vậy đều đều bình bình tàm tạm ... nửa mãn nguyện nửa buông trôi như thể cuộc sống này chỉ là nơi ông tạm trú còn nơi ông thật chú ý thật thiết tha thật nhiệt huyết còn ở nơi nào đó.

Không ít người đã hỏi ông nhân vật Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh có phải chính là hiện thân của Bảo Ninh lúc nào cũng bảng lảng trong những miền ký ức. Bảo Ninh ầm ừ: Cũng đúng. Kiên có rất nhiều điểm giống tôi nhiều chuyện của Kiên được xây dựng từ cuộc đời tôi. Nói tôi là Kiên hay tôi là Kiên cũng chẳng sai.

Vậy còn Phương Phương của Kiên chắc chính là người yêu vợ ông bây giờ? Cũng không hẳn. Thật ra thời chúng tôi yêu nhau đơn giản lắm. Thích là yêu yêu là cưới. Nói chuyện riêng vài lần coi như đã chấm nắm được tay nhau là phải cưới rồi đi quá nữa là chết. Dư luận xã hội ngày xưa khủng khiếp lắm.

Câu chuyện về ông luôn luôn như vậy chậm rãi lẻ tẻ như ông đang vừa từ từ nhả ra từng con chữ vừa nhấm nháp thưởng thức chúng.

Thực ra sau này Bảo Ninh đã ra mắt tập sách thứ hai một tập truyện ngắn. Nhưng có lẽ cái bóng của Nỗi buồn chiến tranh quá lớn nên độc giả văn chương vẻ như không hài lòng lắm không để ý lắm đến nó như thể Bảo Ninh còn nợ họ món nợ khá lớn. Tập truyện ngắn kia chỉ là phần trả lãi chỉ tạm đủ để họ nhấm nháp chờ con nợ .

Người ta phấp phỏng hỏi han một nỗi buồn mới dễ đã cả mấy chục năm. Nhưng Bảo Ninh vẫn thế ngúc ngắc đầu: đang viết sẽ hoàn thành sớm. Người ta đoán già đoán non cái đang viết ấy là gì: viễn tưởng trinh thám ư? Ít có khả năng. Hiện thực phê phán hay gì gì đó chăng? Tất cả đều có thể.

Nhưng người ta tin hơn cả Bảo Ninh sẽ lại cho ra đời một cuốn sách về chiến tranh. Có lẽ đó mới chính là miền sáng tác luôn bảng lảng trong suốt cuộc đời ông. Nỗi buồn chiến tranh đã "vắt" biết bao nỗi đau "chiết xuất" ra những câu chữ u uẩn.

Nhưng người ta tin vẫn còn nhiều lắm những ẩn ức còn lưu giữ trong Bảo Ninh chưa được "chiết xuất" hết và rằng ông vẫn còn ôm giữ dành dụm và ủ men chúng. Chứng minh qua những ánh nhìn xa xôi những ưu tư lạc lõng những buồn vui u uẩn bảng lảng như trong cơn mộng.

Chương cuối: Chờ đợi

Ông vẫn đi về chăm chỉ đúng hình mẫu của một công chức mẫn cán. Nhưng tôi tin bên trong sự đi về tẻ nhạt đầy vẻ yên phận đó là vỏ bọc để lớp men đang ủ chờ ngấu. Để rồi - như Bảo Ninh đã hứa khá nhiều - sớm cho ra những giọt sáng tạo sóng sánh.

Hy vọng lòng kiên nhẫn của những độc giả của ông không bị thử thách thêm nhiều nữa.

More...

Thư gửi những linh hồn đau khổ

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Hỡi linh hồn khổ đau của những người đã chết trên chuyến xe bất hạnh.

Nước lũ đã rút đi một chút trên dòng sông Lam nhưng cơn lũ của đau thương đang dâng ngập trên xứ sở này. Bao nhiêu niềm vui mà chúng tôi dành dụm trong những ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long giờ như tan biến tất cả. Kể từ khi nghe tin chiếc xe khách bị dòng lũ cuốn xuống sông Lam hàng triệu người Việt Nam đã hướng về dòng sông ấy. Có biết bao người không cầm được nước mắt. Trong dòng nước lạnh và chảy xiết kia những người đàn ông đàn bà những cô gái và những đứa trẻ bất hạnh đang ở đâu. Tất cả những người Việt Nam có lương tâm đều thấy mình có lỗi. Hỡi các linh hồn đau khổ xin hãy tha tội cho những người đang sống.

Những con người ấy đang trên đường trở về ngôi nhà của mình. Nhưng họ đã không về được nhà mình nữa. Trong những ngày này và mãi mãi về sau trên dòng sông ấy đêm đêm trong mưa gió buồn bã chúng tôi còn nghe lời kêu cứu của các linh hồn. Có những
người trong chúng tôi bắt đầu cảm thấy sợ hãi khi nghĩ rằng trong một ngày nào đó phải đi qua khúc sông ấy và chúng tôi không chịu được nỗi buồn đau và ân hận.

Chúng tôi sẽ không bao giờ trả lời được câu hỏi của các linh hồn: "Các người hãy trả lời đi vì sao chúng tôi phải chết như thế? Vì sao các người không chặn được chiếc xe ấy lại? Vì sao người lái xe cứ lao thẳng chiếc xe đưa chúng tôi vào cái chết?"


Chiếc xe khách gặp nạn đang được vớt lên Ảnh VietNamNet

Nước sông Lam có bao giờ buốt lạnh như những ngày này không? Gió đôi bờ sông Lam có bao giờ gào thét bi thương như những ngày này không? Trong tâm trí đau buồn của biết bao người đang sống những đứa trẻ vẫn lang thang dọc đôi bờ sông tìm mẹ. Chúng không bao giờ lớn lên được nữa. Chúng bỏ lại những đồ chơi rẻ tiền mà ông bà cha mẹ chú bác đã dành dụm mua tặng chúng trong mùa Trung thu vừa qua.

Những người đàn ông đàn bà chết oan uổng vẫn ngơ ngác với câu hỏi "Vì sao chúng tôi phải chết?". Họ lang thang dọc hai bờ sông Lam. Họ mãi mãi không bao giờ về tới nhà mình. Và những người sống chúng ta mãi mãi không bao giờ được tha thứ.

Trong những ngày này chúng ta lại nghe tin những hành khách trên một chuyến bay của Vietnam Airline đi Pháp bị thương. Rất nhiều người đặt câu hỏi: vì sao chuyến bay đó không quay lại Việt Nam hay tìm cách hạ cánh xuống một sân bay nào đó để cứu chữa những hành khách bị thương và để trấn an tinh thần họ hay để kiểm tra lại những gì cần thiết cho chặng bay tiếp theo rất dài?

Cũng như những người làm nhiệm vụ trên tuyến đường có chuyến xe khách bất hạnh đi qua và cả người lái xe nữa sao không dừng lại? Sao người ta lại có thể để một chuyến xe chở hàng chục mạng người đi vào nơi mà cái chết đang rình rập họ?

Chúng ta đang thờ ơ với mạng sống con người. Chúng ta đang nghĩ đến lợi ích vật chất hơn mạng sống của những hành khách trên chuyến xe kia và trên chuyến bay kia. Chúng ta đang đầu độc những dòng sông đang đầu độc những nguồn nước đang đầu độc thực phẩm...Bởi thế chúng ta có những làng ung thư. Tất cả những gì chúng ta đang làm giống như những trò độc ác của ma quỷ là vì những đồng tiền. Chúng ta còn bao nhiêu phần trăm nhân tính trong trái tim mình?

Cho dù chúng ta đã làm lễ cầu siêu bên bờ sông Lam những tôi biết linh hồn của những người chết oan uổng vẫn không thể ra đi. Họ vẫn đứng trong gió và nước lạnh bên bờ sông nhìn chúng ta và hỏi: " Vì sao chúng tôi phải chết như thế này?" Những linh hồn chỉ thực sự siêu thoát khi hàng ngày trong từng hành động những người còn sống phải làm với lương tâm và tình thương yêu con người thực sự. Nếu chúng ta thực sự thương yêu đồng loại mình chúng ta sẽ luôn luôn dõi theo họ và bảo vệ họ. Nhưng chúng ta đã bỏ mặc họ.

Chúng ta xây đủ loại công trình để kinh doanh lấy tiền và lấy thành tích nhưng chúng có bao giờ tỉnh giấc trong đêm nghĩ đến những công trình cho những đứa trẻ và những người già chưa? Một rạp chiếu phim giành cho trẻ con được xây lên nhưng chúng ta chẳng nghĩ được phải làm gì cho những đứa trẻ trong cái rạp chiếu phim ấy.

Chúng ta bày ra các loại trường không phải để làm ra những thế giới kỳ diệu cho những đứa trẻ mà để "ra giá cao" đối với cha mẹ chúng. Chúng ta lợi dụng những đứa trẻ một cách gián tiếp để kiếm tiền. Chúng ta thờ ơ với những hệ thống dây điện để dòng điện giết chết những đứa trẻ. Chúng ta để cả những máy ATM hở điện như những cái bẫy của thần chết đợi con người. Chúng ta không thể biện minh cho trái tim vô cảm lối sống ích kỷ và ác độc của chúng ta. Chúng ta thực sự chưa vì con người.

Những ngày này nơi tôi đang ở mùa thu thật đẹp. Nhưng mùa thu ấy đã chết khi chiếc xe chìm xuống dòng sông buốt lạnh và vang lên lời kêu cứu thảm thiết của những con người bất hạnh. Có bao nhiêu người trong đêm nay nghe được tiếng kêu đau khổ ấy?

Hỡi những linh hồn khổ đau

Chúng tôi cầu xin sự tha thứ. Nhưng xin đừng tha thứ cho chúng tôi. Hãy để trái tim chúng tôi phải đau đớn. Hãy để tiếng kêu thảm thiết trong nước xiết đêm đêm dội vào những căn nhà của chúng tôi. Hãy trở về đêm đêm và đứng trước cửa nhà chúng tôi và đặt vào những ngôi nhà đầy đủ tiện nghi của chúng tôi câu hỏi về tình yêu thương và trách nhiệm với con người. Hãy làm cho chúng tôi không được ngủ ngon bởi sự vô cảm và vô trách nhiệm.

Mọi tai nạn có thể xẩy ra trên mặt đất này nhưng nếu chúng ta đã thực sự vì con người thì dù có chuyện gì bất hạnh xẩy ra với con người chúng ta vẫn còn một chốn nhỏ trong trái tim mình để tự an ủi rằng: chúng ta đã làm hết trách nhiệm và với tình yêu thương chân thành dành cho con người.

Hỡi những linh hồn đau khổ

Chúng tôi những người có lương tâm đang sống xin cúi đầu nhận tội.


Bài đã đăng tải trên Việt Nam Net.

More...

Người đi lạc trong hoà bình

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha

Tôi nhớ mãi một câu chuyện về những người lính giữ chốt trên một quả đồi ven đường mòn Hồ Chí Minh trong chiến tranh. Họ bị bao vây. Những đơn vị ở bên ngoài không thể nào tìm cách tiếp cận được họ ngoài hệ thống liên lạc bằng điện đài. Khi cấp trên hỏi họ cần gì thì họ trả lời: "Chúng tôi cần thơ Phạm Tiến Duật".


Tác giả: Nguyễn Quang Thiều

Đã nhiều lần tôi nói rằng: nếu chọn một nhà văn Việt Nam để dựng tượng trên đường mòn Hồ Chí Minh thì tôi chọn nhà thơ Phạm Tiến Duật. Mà không chỉ mình tôi chọn ông. Rất nhiều người được hỏi đều chọn ông.

Suốt mười mấy năm chiến tranh ông đã đi dọc con đường mòn kỳ lạ ấy đi và làm thơ trong bom đạn trong máu chảy. Hình ảnh ấy luôn luôn ám ảnh tôi. Và tôi không làm sao lý giải đầy đủ được con đường của thi ca trong con đường bi tráng ấy.

Nhà thơ Mai Văn Phấn đã nói với tôi: Phạm Tiến Duật là người đã mang đến cho thi ca trong những năm tháng chiến tranh một đời sống mới cả về thi pháp lẫn nội dung.

Mai Văn Phấn hoàn toàn đúng. Bởi đấy là sự thật. Có lẽ không bao giờ còn có một nhà thơ được tất cả các Uỷ viên Bộ Chính Trị mời cơm khi ông trở về từ chiến trường. Cũng không còn có một nhà thơ nào như ông được những người lính nói: "Chúng tôi tựa vào những câu thơ của Phạm Tiến Duật để đi vào mặt trận". Và như thế ông đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của một người lính và của một nhà thơ trong chiến tranh.

Tôi nhớ mãi một câu chuyện về những người lính giữ chốt trên một quả đồi ven đường mòn Hồ Chí Minh trong chiến tranh. Họ bị bao vây. Những đơn vị ở bên ngoài không thể nào tìm cách tiếp cận được họ ngoài hệ thống liên lạc bằng điện đài. Khi cấp trên hỏi họ cần gì thì họ trả lời: "Chúng tôi cần thơ Phạm Tiến Duật".

Chân dung nhà thơ Phạm Tiến Duật Tranh sơn dầu của Đinh Quang Tỉnh
Những người lính trên điểm chốt ấy biết rằng có thể tất cả họ sẽ hy sinh. Cái cần nhất lúc đó đối với họ không phải là thức ăn nước uống. Cái cần nhất đối với họ trước cái chết là một bài ca của sự sống vang lên đôi lúc như một bản thánh kinh. Thơ của Phạm Tiến Duật không phải là một bản thánh kinh. Nhưng nó là một là một điều gì đó kỳ lạ của thời điểm ấy.

Một bộ phận được phân công chuyển thơ của Phạm Tiến Duật lên điểm chốt đó. Bộ phận này đã tháo thuốc nổ trong một đầu đạn súng cối và cho thơ Phạm Tiến Duật vào đó rồi bắn lên chốt. Đây là một câu chuyện có thật. Nhưng khi được kể lại nó đã trở thành huyền thoại.

Câu chuyện đó là một hiện thực huyền thoại. Đấy là một hiện thực chứa đựng sự kỳ diệu lộng lẫy của thi ca và đời sống tinh thần của con người ở bất cứ nơi nào trên thế gian này.

Nhưng bây giờ có ai còn xúc động đến lạnh người khi nghe câu chuyện này như tôi đã từng trước kia không? Bây giờ thi ca nhiều lúc không còn mảy may bóng dáng trong đời sống của quá nhiều người. Tất cả những điều kỳ diệu ấy như đã trở thành cổ tích tự lâu rồi.  Và ngay chính đối với tác giả sinh ra những câu thơ ấy tôi cứ nghĩ rằng: có những lần tỉnh rượu giữa khuya khoắt đã ngờ vực chính mình và tự hỏi: có thật là mình đã đi qua những năm tháng như vậy không?

Trong những năm ở đường mòn Hồ Chí Minh với quá nhiều thiếu thốn và nhiều lúc đói như điên dại nhưng nhà thơ Phạm Tiến Duật đã được chu cấp đầy đủ như một vị tướng.

Người nhìn ra một trong những tài sản quý báu nhất và có sức mạnh nhất của thi ca khi con người đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chết lại không phải là một nhà nghiên cứu hay là một nhà thơ mà lại là một người lính - ông Đồng Sỹ Nguyên Tư lệnh đường mòn Hồ Chí Minh và là Uỷ viên Bộ Chính Trị sau này.

Nhưng bây giờ nhà thơ không còn được coi trọng và thần thánh hoá như những năm tháng trước kia. Nhiều lúc tôi cứ hỏi tại sao bây giờ những vẻ đẹp của ngôn ngữ và giá trị nhân văn chứa đựng trong ngôn ngữ ấy lại không còn bao ý nghĩa trong đời sống con người nữa. Có rất nhiều lý do nhưng có một lý do mà tôi nhận ra là những người mang danh nhà thơ đã không sống với sự chân thành lòng đắm mê và dâng hiến như thuở trước đối với cuộc sống và đối với thơ ca.

Phạm Tiến Duật trở về từ chiến tranh. Ông ở trong một căn phòng tồi tàn ở Ngõ Yên Thế. Một căn phòng mà lối đi qua căn phòng đó là lối đi để đến một cái nhà vệ sinh tồi tàn của mấy hộ cùng ở trong ngôi nhà đó. Đấy là ngôi nhà của gia đình vợ ông. Căn phòng vợ chồng ông và hai cậu con trai ở ngõ Yên Thế.

Tôi đã từng đến ngôi nhà ấy và dù cho lãng mạn đến thế nào tôi vẫn phải tự hỏi: tại sao ông có thể sống ở một nơi chật chội và thiếu thốn mọi thứ như thế. Mãi đến sau này tôi mới có thể tìm được một lý do dù rằng lý do đó cũng thật mơ hồ để lý giải vì sao một nhà thơ danh tiếng lẫy lừng như ông vẫn sống trong một điều kiện quá khó khăn sau khi chiến tranh đã kết thúc quá lâu.

Tôi từng chứng kiến những người yêu quí thơ ông mang đến cho gia đình ông từng bao tải mùn cưa để nấu nướng. Trong khi đó rất nhiều nhà thơ khác đã xây dựng lên một cơ ngơi đàng hoàng và chăm chút cái tổ ấm của họ hơn cả chăm chút thơ ca.

Còn Phạm Tiến Duật vẫn trôi lang thang với thơ ca như một đám mây. Đám mây ấy chỉ biết có bầu trời. Đám mây ấy chỉ biết nó đang trôi trong tự do vô tận nhiều lúc như một bản năng khó kìm giữ. Bây giờ nhiều người vẫn nhắc lại hồi đó tổ chức đã chuẩn bị đặt ông vào một vị trí rất cao: Bí thư thứ nhất Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Nếu ông chỉ cần nghĩ đến điều đó bằng 50% của các nhà văn nhà thơ khác thì ông có thể ít nhất đã là một Bộ trưởng.

Nhưng thơ ca và bản tính tự do của một thi sỹ đã kéo ông đi như gió cuốn đám mây trên bầu trời kia. Bản tính của một thi sỹ đích thực đã làm ông quên đi tiền bạc quên đi nhà cửa quên đi quyền chức và nhiều lúc quên đi cả vợ con mình.

Tôi đã từng nghe một số nhà thơ nói ông khôn. Nhưng than ôi nếu khôn thì vợ con ông đã không phải sống trong một căn hộ 26 mét vuông trên tầng năm của một khu chung cư tồi tệ nhất Hà Nội. Nếu khôn thì ông đã không nhận cái chức Tổng biên tập của Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam. Một tạp chí chẳng mấy ai đọc và chẳng biết làm thế nào để có thêm 300.000 đồng ăn trưa. Nếu khôn thì ông đã không bỏ đi chơi theo bạn bè quên cả sinh hoạt Đảng để ông không thể trở thành Đàng viên chính thức trong lần kết nạp Đảng thứ nhất. Đã khôn thì ông không phải để một thằng em và cũng là một cậu học trò thơ ca là tôi và những người kém tài kém đức hơn ông ngồi xét xem ông đã đủ tiêu chuẩn vào Đảng hay không? Với tôi đó là sự cay đắng không phải của ông mà của chính tôi.

Tôi trở thành một trong những người thân của gia đình nhà thơ Phạm Tiến Duật từ những ngày anh chị còn ở trong ngôi nhà hay có thể gọi là căn phòng nằm trong ngõ Yên Thế Hà Nội. Ngày ấy tôi chưa lấy vợ. Chính vì thế tôi thường xuyên đến đó.

Chị Vân coi tôi như một đứa em trong nhà. Chị thường đi chợ muộn để có thể mua được thực phẩm với giá rẻ. Tôi nhớ mãi món bò kho chị nấu lúc nào cũng nhiều nước. Vì sao chị lại nấu thịt bò kho nhiều nước? Vì thịt ít nên nấu nhiều nước để ăn. Đó là những năm đầu của thập niên 1980. Đó là thời gian khó khăn nhất sau chiến tranh. Hồi ấy tôi thi thoảng đi công tác TP.HCM.

Một lần mấy người bạn rủ tôi buôn chanh từ TP.HCM ra Hà Nội. Chanh ở trong đó rất rẻ còn Hà Nội lại quá đắt. Chúng tôi mua mấy chục kilogam chanh từ TP.HCM ra. Nhưng đến Hà Nội thì hầu hết chanh bắt đầu bị vàng vỏ. Tiền mua chanh lúc đó là một số tiền lớn so với lương của chúng tôi.

Vợ chồng nhà thơ Phạm Tiến Duật thương mấy đứa em quá. Thế là hai người hì hục xếp từng quả chanh xuống gầm giường cho mát để giữ chanh khỏi nhanh bị vàng vỏ. Và chiều chiều sau khi chị Vân đi dạy học về nhà thơ Phạm Tiến Duật lại giục vợ trộn những quả chanh đã vàng vỏ lẫn với những quả chanh còn xanh mang ra chợ Sinh Từ gần đó bán gỡ vốn cho chúng tôi.

Cuộc sống của mọi người trong đó có tôi giờ đã quá khác xưa. Nhưng mỗi lần đi qua ngõ Yên Thế tôi lại muốn dừng lại để hồi tưởng về những ngày xưa ấy. Tôi sẽ chẳng bao giờ lý giải cho ra ngọn ngành vì sao một nhà thơ danh tiếng đến như thế lại có thể sống trong một căn phòng như thế và có thể ngồi lặng lẽ xếp từng quả tranh xuống gầm giường để chống vàng vỏ cho một nhà thơ trẻ.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật ông đã đi qua vinh quang và cay đắng qua hạnh phúc và khổ đau. Và lúc này hình ảnh ấn tượng nhất của tôi về ông là hình ảnh ông cùng vợ xếp cẩn thận những quả chanh đang bắt đầu vàng vỏ xuống gầm giường và hình ảnh ông đang đọc thơ trước hàng trăm người nông dân cùng hàng trăm ngọn đèn dầu ở một vùng quê nghèo đói. Đó là hình ảnh của một nhà thơ và là hình ảnh của thi ca. Nếu không thì tôi biết nói gì lúc này

Lần đầu tiên tôi gặp nhà thơ Phạm Tiến Duật là khi tôi vừa mới tập làm thơ (1981). Mấy năm sau biết tôi quen thân với ông những nông dân làng tôi nhờ tôi mời ông về nói chuyện thơ cho dân làng nghe. Ông nhận lời và lên đường. Ông khác với nhà thơ Xuân Diệu nếu được mời nói chuyện phải xe đưa xe đón phải cơm gà cá gỏi. Cả hai người đều tôn vinh thơ ca bằng hai cách khác nhau. Một người bắt những kẻ khác phải ứng xử với nhà thơ như thế nào còn người kia mang thơ ca đến cho con người như mang những cơn mưa đến cho đồng ruộng.

Ngày đó phương tiện giao thông vô cùng khó. Chúng tôi phải đi bộ 6km từ bến xe về làng. Dân làng tôi đã mổ một con lợn đón ông. Tối đó ông đã đứng trước cửa đình nói về thơ trước hàng trăm người nông dân làng tôi. Ngày ấy làng tôi chưa có điện nên mỗi nông dân đến nghe thơ đều mang theo một ngọn đèn dầu. Tôi nhớ mãi đêm đó. Một đêm đẹp như một giấc mộng. Sáng hôm sau Phạm Tiến Duật lại đi bộ 6km đến bến xe để trở về Hà Nội. Những người nông dân tiễn ông đến đầu làng. Và từ đó người làng tôi coi ông là một công dân danh dự của làng.

Trong chiến tranh con đường của ông là một con đường thẳng xuyên qua bom đạn xuyên qua cái chết. Ông đã đi đúng con đường ấy và không hề lạc bước một ngày cho đến ngày chiến thắng. Nhưng khi hoà bình đến thì ông đã đi lạc.

Nhiều lúc tôi vẫn nghĩ ông không nhận ra con đường trong hoà bình hoàn toàn khác với con đường trong chiến tranh. Và thế là những nhà thơ cùng thế hệ của ông đã tìm một con đường khác còn ông lại vẫn đi trên một con đường khác. Ông mê mải đi trên con đường ấy một con đường chỉ có trong ký ức của ông.

Ông vẫn nói như hồi chiến tranh và vẫn làm thơ như hồi đó. Bởi thế mà ông từng là nhân vật trong những cuộc bàn luận trong quán bia hơi thịt chó không thiện chí của không ít các nhà thơ cùng thế hệ với ông. Ông cứ tưởng tất cả vẫn thế. Nhưng ông có biết đâu tất cả đã đổi thay mà ông không biết. Và thế là nhiều lúc ông trở lên lạc lõng trước nhiều nhà văn nhà thơ cũng thế hệ của mình. Cũng có lúc ông như người chợt tỉnh và nhận ra rằng ông đã đi xa cái thời đại mà ông đang thở trong đó. Thế là ông vội vàng chỉnh sửa. Nhưng sự chỉnh sửa của ông để cho hợp với đương thời chỉ làm ông thêm lúng túng và vụng về.

Không ít người nhìn thấy ông lúng túng và vụng về trên cái sân khấu cuộc đời này thì chê bai ông. Nhưng sự lúng túng và vụng về đó lại chứa đựng sự chân thành. Và sự chân thành ấy của ông nhiều lúc đã cản đường ông và đẩy ông ra xa nhiều nhà thơ cùng thế hệ. Nhưng ông lại để lại trong lòng ít nhất một người như tôi sự xúc động. Còn những người chê bai ông lại chỉ là sự vô cảm và dửng dưng đối với tôi. Họ đã diễn quá giỏi trong những vai mà họ nhận được. Tôi có thể làm thơ với cái gọi là hiện đại hơn ông nhưng tôi đã từng không chân thành được như ông. Điều ấy làm tôi đôi lúc thấy xấu hổ.

Mấy ngày trước tôi ngồi với ông. Ông cho tôi xem bệnh án với những kết quả xét nghiệm của bác sỹ với thái độ bình thản như từng cho tôi và bạn bè xem một bài thơ vừa sáng tác. Phổi ông có khối u với những cái chân như rễ của một củ hành. Và tôi hiểu đó là cái gì. Rồi sau đó ông cho tôi xem bài thơ của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm viết tặng ông khi nghe tin ông mắc trọng bệnh. Ông rất xúc động vì bài thơ đó. Ông vẫn thế vẫn đôi lúc vô tư như một cậu bé. Ông vẫn đi lạc trong trong chính thời đại mà ông đang sống. Tôi đã trò chuyện với không ít những nhà thơ của thế hệ mình. Họ vẫn luôn luôn đánh giá đúng những gì mà ông đóng góp cho thơ ca trong những năm chiến tranh.

Ông mãi mãi là nhà thơ số 1 của thời đại ấy.

More...

Báo chí có quyền đấu tranh với những người bưng bít thông tin

By Website: http://thothanhhai.tk/; Email: thothanhha




"Báo chí có quyền đấu tranh với những người cố tình bưng bít thông tin đòi hỏi sự minh bạch trong công vụ qua đó giành lại quyền tác nghiệp một cách chính đáng của mình đã được quy định bởi pháp luật"- nhà báo Phan Quang chia sẻ.

LTS: Thứ trưởng Bộ Thông tin Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội... là những cương vị nhà báo Phan Quang từng kinh qua vài chục năm gần đây. Việc ông rời nhiệm sở năm 2003 khi đã tròn 75 tuổi cũng là một trường hợp hiếm hoi trong làng báo.

Dù đã về hưu nhưng ông vẫn gắn bó với nghiệp viết lách. Nhờ đầu óc luôn bận rộn nên ông vẫn giữ được sự minh mẫn dẫu gánh nặng tuổi tác đã lấy đi của ông ít nhiều sức khỏe. Mặc dù không được "sung sức" lắm nhưng ông vẫn giành cho DNSGCT một cuộc trò chuyện tại nhà riêng nằm trong một con hẻm nhỏ trên đường Đặng Văn Ngữ quận Đống Đa Hà Nội. Tuần Việt Nam xin đăng lại bài viết này.

Ông suy nghĩ thế nào về vai trò trung gian của báo chí và người viết báo trong xã hội hiện nay?

Ngày xưa báo chí được hiểu là báo in cả tiếng Pháp và tiếng Anh đều gọi chung là press nó vốn là một thuật ngữ của ngành in. Cùng với sự ra đời và phát triển của các loại hình báo chí khác từ phát thanh truyền hình cho đến truyền thông đa phương tiện thì press không còn bao hàm đầy đủ ý nghĩa nữa. Bây giờ người ta hay dùng mass media gọi tắt là media để chỉ báo chí nói chung. Từ media gốc tiếng Latin có nghĩa là trung gian. Như vậy nội hàm của báo chí đã thể hiện vai trò trung gian. Từ một nguồn tin nhà báo thu thập xử lý thành "thông điệp" nói theo thuật ngữ của ngành truyền thông để truyền tải đến công chúng. Vai trò trung gian là một vấn đề được xem là cơ bản của báo chí. Việc thiếu hoặc không quan tâm đến nó một cách đầy đủ sẽ dẫn đến xử sự không chuẩn xác.

Ông có thể nói rõ hơn?

Nội dung thông điệp luôn bị chi phối bởi tính chủ quan của người truyền tải đó là nhà báo. Thí dụ tôi đi làm về thấy ba bà hàng xóm đang xúm xít ở cầu thang khu nhà tập thể bàn tán về việc hai vợ chồng ở căn hộ tầng hai cự cãi nhau dẫn đến xô xát khiến tổ dân phố phải can thiệp. Bà thứ nhất nói: "Bà vợ chua ngoa lắm cãi chồng nhem nhẻm. Ông chồng nóng tính tát cho một cái là phải". Bà thứ hai không đồng tình: "Bà nói thế nào ấy chứ. Thời buổi này đàn ông đánh phụ nữ là bạo hành gia đình. Vợ nói gì thì nói chồng cũng không được phép đánh vợ". Bà thứ ba bình luận: "Vợ chồng nhà ấy hồi trước như đôi chim cu.

Nhà báo Phan Quang. Tranh Hoàng Tường.
Cứ đến chiều thứ Bảy là diện ngất trời chở nhau đi nhảy đầm đến khuya có khi hai ba giờ sáng mới về vui vẻ lắm. Từ hôm công việc làm ăn thất bại hai người mới sinh ra điều to tiếng nhỏ". Như vậy họ không hề bóp méo sự thật về vụ xô xát nhưng mỗi người có cách nhìn sự việc riêng và lý giải theo cách nhìn của mình. Vậy nên vai trò trung gian của báo chí đòi người làm báo phải có kiến thức tương đối rộng phải hiểu biết cuộc đời và có khả năng phán xét. Rất nhiều cái tin rút từ trên mạng xuống vội vàng đưa in lên tờ báo của mình không thể hiện quan điểm rõ ràng có khi phi chính trị; hoặc là cùng một vấn đề mà mỗi tờ báo đưa một kiểu nội dung đối chọi nhau do nguồn tin khác nhau cách nhìn khác nhau.

Ngay cả trong trường hợp nguồn tin chân thực thì việc mình bê nguyên xi nội dung của nước ngoài vô hình trung thể hiện quan điểm của người ta. Chẳng hạn đưa một bản tin về việc nguyên thủ một nước chúng ta đang có quan hệ ngoại giao mà dám gọi vị ấy là "kẻ sát nhân" - cho dù người ta có thể có cái lý của người ta - thì vừa không nghiêm túc không lịch sự vừa có thể gây nên những rắc rối không đáng về quan hệ đối ngoại.

Với trường hợp này liều lượng thông tin như thế nào là phù hợp?

Chúng ta vẫn đưa tin nhưng cần trích nguồn cụ thể. Người đọc khắc hiểu. Nội dung bản tin không có bình luận nhưng vẫn có thể chỉ rõ tờ báo ấy thuộc một đảng phái đối lập với vị tổng thống kia chẳng hạn. Ở chính trường phương Tây việc người ta phanh phui đời riêng của đối thủ chính trị và đả kích nhau là chuyện không hiếm. Đối với ta có khác. Giả sử một tờ báo nước ngoài đả kích nguyên thủ của nước mình thì dù quan điểm chính trị của riêng mình có hoàn toàn nhất trí với quan điểm của vị ấy hay không chúng ta vẫn không thể không lên tiếng bởi nguyên thủ là người đại diện cho quốc gia. Gọi đó là "tự ái dân tộc" cũng được. Chúng ta ứng xử với nguyên thủ nước ngoài theo quan điểm ấy.

Trong hơn nửa thế kỷ làm báo hẳn rằng ông đã nhiều lần "lên tiếng ?

Thế hệ chúng tôi nhiều người học trường Tây chịu ảnh hưởng của văn hóa Pháp biết ơn văn hóa Pháp nhưng điều đó không ngăn cản chúng tôi cầm súng đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp. Trong thời bình cũng vậy thôi.

Xin kể lại một thí dụ. Đầu thập niên 1990 Đài phát thanh Pháp Quốc tế (RFI) hồi ấy còn trực thuộc Radio France tức cơ quan chính thức của nước Pháp có phát một bản tin có nội dung không thiện chí về Việt Nam. Cũng vấn đề đó nhưng bản tin của TTXVN và nhật báo Thái Lan Bangkok Post đều trích dẫn nguồn ban đầu của hãng tin Mỹ UPI thì nội dung về thực chất không đến nỗi tệ như tin phát trên RFI.

Trong buổi tiếp bà Catherine Tasca Quốc vụ khanh đặc trách khối Pháp ngữ sang thăm chính thức nước ta tôi đã "đấu" với bà ấy rất dữ về việc RFI bóp méo thông tin để nói xấu Việt Nam. Bà ấy hỏi chứng cứ? Khi tiễn bà bộ trưởng ra về tôi đưa cho bà một tập tư liệu gồm bốn bản tin cùng đưa một vấn đề với nội dung khác nhau. Tuần tiếp theo ngay sau đó tôi có việc qua Pháp bà Catherine Tasca biết tin mời đến tiếp đón chúng tôi nồng hậu. Tuyệt nhiên không ai đả động đến chuyện cũ. Chắc họ đã nhận ra cái sai qua các tư liệu cụ thể và việc tranh luận giữa bạn bè với nhau cho dù gay gắt không ảnh hưởng đến tình thân hữu. Hơn nữa có vẻ như người ta sau đó nể trọng mình hơn.

Thông tin được xem là một thứ vốn liếng của nhà báo. Tường thuật cuộc gặp mặt báo chí khu vực Nam bộ ngày 8/1/2010 do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức báo Vietnamnet dẫn lời một Tổng biên tập rằng: "Hiện nay phóng viên tác nghiệp cực kỳ khó khăn hình như "chạm" đến ai cũng bị từ chối cung cấp thông tin...". Ông suy nghĩ thế nào về vấn đề này?

Hành động khước từ không chịu cung cấp thông tin trừ các vấn đề liên quan đến bí mật quốc gia là không đúng. Dưới chế độ ta mọi việc phải tiến tới công khai minh bạch. Đặc biệt những vấn đề thuộc về công vụ tức là có quan hệ đến quyền và nghĩa vụ của mọi người dân. Chúng ta phải đấu tranh cho quyền của người dân và của báo chí được thông tin và tiếp xúc thông tin trở thành hiện thực chứ không chỉ là khẩu hiệu. Quyền này được quy định rõ trong Luật Báo chí của chúng ta ban hành cách nay một phần tư thế kỷ và được nêu cụ thể trong Hiến pháp năm 1992 mà tôi có vinh dự là một Đại biểu Quốc hội thời gian Quốc hội bàn và quyết định việc sửa đổi một số điều của Hiến pháp hiện hành thời ấy.

Tôi rất mừng về việc Quốc hội thông qua đưa "quyền được thông tin" thành một nội dung trong một điều khoản của Hiến pháp (Điều 69 Chương "Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam").

Báo chí có quyền đấu tranh với những người cố tình bưng bít thông tin đòi hỏi sự minh bạch trong công vụ qua đó giành lại quyền tác nghiệp một cách chính đáng của mình đã được quy định bởi pháp luật.

Đấu tranh bằng phương tiện gì?

Báo chí. Đó là phương tiện duy nhất của những người làm báo.

Có một thực tế hiện nay là nhiều người cho rằng "đọc báo chán quá" vì ngoài những thông tin như ăn gì mua gì và tin "cướp - giết - hiếp" khó tìm thấy những bài viết sâu sắc về định hướng phát triển của đất nước những vấn đề của xã hội những điểm sáng...

Tôi không đồng tình với quan điểm cho rằng chỉ vì bị "bưng bít thông tin" cho nên bạo lực sex... xuất hiện nhiều trên mặt báo. Cuộc sống vốn rất phong phú. Có điều thế giới đang chuyển động rất nhanh đời sống của đất nước ta rất phong phú nhà báo cần biết chọn lọc thông tin vừa đảm bảo lợi ích của dân tộc vừa thỏa mãn nhu cầu thông tin của công chúng không làm cho người ta chán. Cái quan trọng nữa nhà báo không nên chỉ nhằm mục đích cốt làm sao bán cho được nhiều báo và vì thế không ngại ngùng hạ thấp chất lượng thông tin. Việc này nói dễ làm khó cho nên tất cả chúng ta đều cùng phải cố gắng.

Ngoài yếu tố "thế giới đang chuyển động rất nhanh" nhà báo còn chịu một áp lực rất lớn là sức ép về thời gian. Vì vậy đôi khi nhà báo không kịp kiểm chứng nguồn tin dẫn đến thông tin bị sai lệch?

Sức ép thời gian là một thực tế. Cùng một sự kiện xảy ra chỉ mấy phút sau đã được tường thuật chi tiết trên báo mạng. Ông chủ nhiệm báo Le Monde của Pháp từng có dịp than phiền rằng "tình trạng chịu sức ép quá nặng về thời gian làm suy giảm đạo đức của nhà báo". Vì không kịp kiểm chứng độ xác thực của thông tin không kịp hiểu ra bản chất của nó có những nhà báo sau đó đã phải hối tiếc tại mình đã quá vội vàng ham chuộng chạy đua với thời gian để đến nỗi không làm tròn trách nhiệm trước độc giả.

Với tốc độ phát triển như hiện nay của khoa học và biến chuyển xã hội nhà báo dễ bị hụt hơi. Có thể giảm bớt áp lực thời gian tức là vẫn coi trọng thời gian nhưng không để thời gian chi phối qua việc nhà báo đầu tư nhiều chất xám hơn cho chất lượng tin bài. Cùng một sự kiện nhà báo phải biết xử lý để gạn lọc được những thông tin hay bớt đi những thứ có vẻ hấp dẫn mà thực tình vô bổ. Muốn vậy nhà báo phải có tài năng kiến thức đạo đức và nhất thiết phải lao động hết mình.

Thực tế công việc đòi hỏi rất cao nhưng các cơ sở đào tạo cử nhân báo chí hiện nay nơi cung cấp lao động bị phàn nàn quá nhiều về chất lượng "đầu ra"...

Việc các cử nhân báo chí mới ra trường chưa tác nghiệp một cách thành thạo theo tôi là chuyện bình thường. Ngành nào cũng vậy đâu phải riêng cử nhân báo chí? Trên thế giới này có bao nhiêu người vừa rời khỏi ghế nhà trường thậm chí chưa học xong đại học vào đời đã chói sáng ngay như Bill Gates? Khoảng một phần ba cử nhân báo chí ra trường hằng năm rồi đây có thể trụ lại được với nghề đã là tốt. Trong số này may ra thì một nửa sẽ thành đạt với mức độ khác nhau. Việc đòi hỏi có thật nhiều những ngôi sao trong làng báo là hơi khó bởi sao đích thực là sao thời nào cũng hiếm ở đâu cũng hiếm.

Tuy nhiên tôi nghĩ chúng mình nên nhìn nhận thực tế trên một cách bình tĩnh khách quan. Công việc đào tạo và bồi dưỡng nhà báo mấy chục năm qua đã có sự thay đổi về chất. Ngoài báo viết còn có báo hình báo nói báo mạng và các thể loại chuyên ngày càng đi vào chiều sâu. Đào tạo báo chí thuộc về giáo dục chuyên ngành nhưng nằm trong hệ thống giáo dục chung. Nền giáo dục đại học của nước ta còn nhiều bất cập thì đào tạo báo chí còn những mặt bất cập là điều dễ hiểu. Thay vì phê phán đòi hỏi người khác mỗi người chúng ta nên tự nhận ra những cái yếu của mình tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp khắc phục từng bước. Như vậy sẽ thiết thực hơn có ích hơn là chỉ kêu ca chất lượng đào tạo.

Trên bình diện cá nhân mỗi người nên tự coi mình là một nhà báo bình thường "tầm tầm" và không ngừng phấn đấu nâng cao trình độ hoàn thiện dần bản thân. Tài năng như nhiều nhà hiền triết cổ kim đã nói là sự cần cù.

Được thừa nhận là một "cây đa cây đề" trong làng báo ông có lời khuyên gì đối với những đồng nghiệp trẻ?

Tôi nghĩ cứ dựa vào tuổi tác lấy tư cách "cha chú" để khuyên các đồng nghiệp trẻ của mình là việc không nên. "Cây đa cây đề" thì thường cỗi. Cành lá trông xanh tốt thế thôi chứ bên trong có khi thân đã mục ruỗng hết rồi. Ngồi dưới tán "cây đa cây đề" lỡ cây sụm xuống vong mạng như chơi. Các bạn trẻ chớ nên dại nấp bóng cây đa cây đề.

Bây giờ các bạn trẻ giỏi hơn thế hệ tôi nhiều các bạn được học hành đàng hoàng. Thế hệ chúng tôi đâu có được đào tạo như các bạn. Mình vào nghề báo như một người tự dưng bị ném xuống sông phải cố ngụp lặn tìm cách ngoi lên nếu không muốn chết chìm.

Theo ông tính trung thực của báo chí được hiểu như thế nào? Phải chăng nhà báo có quyền tìm kiếm thông tin bằng mọi cách vì cứu cánh biện minh cho phương tiện? Mục đích tốt thì phải chăng có thể dùng những biện pháp nghiệp vụ xấu như nghe lén thu âm lén...


"Báo chí có quyền đấu tranh với những người cố tình bưng bít thông tin đòi hỏi sự minh bạch trong công vụ qua đó giành lại quyền tác nghiệp một cách chính đáng của mình đã được quy định bởi pháp luật".

Tôi cho rằng "cứu cánh biện minh cho phương tiện" là cách nói thực dụng thậm chí phi đạo lý. Thử nêu trường hợp: một người đàn ông dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt trái tim của một cô gái. Khi tình yêu không đến từ hai phía thì cuộc hôn nhân khó thể bền chặt. Đến một lúc nào đó cô gái sẽ khám phá ra sự thật mọi ảo tưởng sẽ vỡ tan như bong bóng xà bông. Ngoài Luật Báo chí nhà báo còn chịu sự điều chỉnh của Luật Dân sự.

Theo đó xâm phạm đời tư người khác bằng cách này hay cách khác đều là hành vi vi phạm pháp luật. Vì lý do an ninh quốc gia đúng là cơ quan chức năng của nước nào cũng có tổ chức nghe lén đặt máy thu âm trộm một số đối tượng... nhưng những hoạt động này vẫn phải tuân thủ giới hạn luật pháp của từng quốc gia phải được Quốc hội (chứ không phải Chính phủ) cho phép bằng luật. Một bài học kinh điển cho những người làm báo là vụ Watergate khiến Tổng thống Mỹ Nixon mất chức một cách bẽ bàng. Theo tôi trong bất kỳ trường hợp nào nhà báo cũng phải tác nghiệp "sạch sẽ" phải đàng hoàng trung thực khi hành nghề.

"Trung thực" có phải là phẩm chất quan trọng nhất của một nhà báo?

Trung thực không chỉ là phẩm chất quan trọng nhất của nhà báo mà còn là đạo lý làm người. Một người thiếu trung thực luôn tìm cách nói xấu cấp trên đố kỵ người đồng cấp chèn ép cấp dưới hoặc ngược lại luồn lọt cấp trên mua chuộc cấp dưới thì tôi không tin là khi làm nghề báo chí người đó có thể thông tin một cách trung thực khách quan. Phải trung thực trong cuộc sống mới có thể trung thực với nghề nghiệp.

Sự trung thực đôi khi phải trả giá...

Thì thiên hạ vẫn có câu than: "Thẳng thắn thật thà thường thua thiệt" mà. Nhưng không vì sợ "thua thiệt" mà những người làm báo thôi "thẳng thắn thật thà".

Ở tuổi 82 tên ông vẫn xuất hiện trên báo. Viết đối với ông là một nhu cầu tự thân?

Hằng ngày tôi vẫn quan sát vẫn đọc vẫn lắng nghe với đôi tai chắc đã suy giảm độ nhạy vì... xơ cứng do tuổi tác. Lẽ tự nhiên tiếp cận với cuộc đời với văn hóa phẩm thì sẽ nảy sinh suy nghĩ đã nảy ra suy nghĩ thì tự nhiên có cái gì đó thôi thúc mình ngồi vào bàn viết. Viết vừa là nhu cầu tự thân vừa là sự giải tỏa giúp mình giữ được sự minh mẫn cân bằng. Dao có mài mới sắc. Trí óc cũng như cơ bắp phải vận động luôn thì mới đỡ teo tóp (hay là chậm teo tóp lại chút nào) vì thời gian. Tôi bái phục những vị lớn tuổi hơn tôi nhiều mà vẫn viết đều đặn. Nhà văn Tô Hoài vẫn nói đối với ông viết là sự vận động cũng như tập thể dục hay đi bộ hằng ngày. Các nhà văn hóa Vũ Khiêu Hữu Ngọc... là những tấm gương. Có người không viết thì đổ bệnh.

Trường hợp riêng tôi lao động một phần nhỏ cũng tại "sức ép" của đồng nghiệp. Tôi được anh em thương gửi báo cho đọc năm này sang năm khác. Cận tết hay sắp tới ngày kỷ niệm gì đó anh em gọi điện thoại hay đến nhà "nhờ bác viết cho một bài" không yêu cầu đề tài ngắn dài tùy thích hay "bác trả lời cho mấy câu phỏng vấn"... Tình nghĩa đến thế mà mình cứ lúc nào từ chối thì kỳ quá. Lại phải cố gắng. Tuy nhiên ở tuổi này đụng đến những vấn đề gay cấn không có lợi cho sức khỏe. Ban ngày hăng hái thì ban đêm khó ngủ. Cho nên đôi khi cũng phải làm như thể mình là anh chàng không biết điều.

Xin hỏi thêm ngoài rìa một đôi câu. Tháng 8/2005 Nhà xuất bản Thông tấn cho ra mắt cuốn sách có tựa đề là Nghề báo nghiệp văn... tập hợp một số bài viết bài nói suy nghĩ bài trả lời phỏng vấn của ông. Nếu không chọn báo là nghiệp đâu là lý do ông gắn bó với nghề này? Ông có hối tiếc vì sự lựa chọn của mình?

Tôi gọi "nghề báo" vì đó là công tác được giao là công việc hằng ngày. Tôi không có quyền lựa chọn. Có công tác thì phải làm. Và cố làm cho tốt. Còn "nghiệp" thì khó nói lắm hình như trời sinh ra vậy ở đời "đã mang lấy nghiệp vào thân...". Nói cho vui thôi tôi có thể tiếc nhưng tôi không bao giờ hối.

Từ ngày ông rời nhiệm sở đến nay đã được bảy năm. Liệu khoảng thời gian này còn kịp để ông theo đuổi "nghiệp văn"?

Bạn đã nghe ai khoe khoang là mình "khởi nghiệp" khi đã quá tuổi cổ lai hy chưa?

Đến hẹn lại lên còn ít ngày nữa là đến Ngày báo chí Việt Nam 21/6. Nên chăng đây cũng là dịp để nhà báo làm một cuộc tự kiểm. Tại sao không?

Tự kiểm? Tôi nghĩ không. "Nhìn lại" thì nên. Sao lại cứ nghĩ phải "tự kiểm"? Xin nói rõ ý tôi. Từ "tự kiểm" vốn có hai nghĩa. Tự kiểm là mình nhìn lại mình có hay có dở thế thì tốt quá. Nhưng vì có "kiểm" ở trong ấy cứ nghe đến là tự nhiên tôi liên hệ tới kiểm tra kiểm soát kiểm toán kiểm điểm biết đâu có kiểm sát nữa... kinh quá. Sợ đụng vào đâu rồi cũng ra vấn đề chăng?

Hôm nay tôi trả lời bạn phỏng vấn để bạn có bài dùng vào dịp 21/6 tới. Bạn muốn coi những điều chúng ta vừa lan man với nhau là tôi "tự kiểm" cũng chẳng sao tôi không phản đối.

Xin cảm ơn ông đã có cuộc trò chuyện thú vị.

More...